Giáo dục về đạo đức và xã hội

bởi tuonglaivietnam

Bài thuyết trình của Bác Sĩ Maria Montessori, tại Đại Hội Nghị Montessori, Edinburgh năm 1938

Nghiem P. M dịch

Trong vấn đề đạo đức, có một sự mơ hồ tương tự như trong vấn đề về tự do. Trên hết, đạo đức thường được xem là cái gì biến thiên theo các thời đại và điều kiện của đời sống, nên rất khó mà tiên đoán được trong giáo dục.

Ngày nay, người ta thường xem việc bàn luận về đạo đức hoặc tôn giáo là một chuyện cổ lổ xỉ và lỗi thời. Thật vậy, vào thời đại này, người ta cảm thấy rằng nhằm tôn trọng ý kiến của người lớn, ta không nên cho trẻ em có ý kiến.Thật là lạ lùng và vô lý khi ta nghĩ rằng để tôn trọng cảm nghĩ của người lớn, chúng ta phải  tước bỏ một sự hổ trợ rất cần thiết đối với trẻ em.

Bây giờ tôi cảm thấy chắc chắn rằng chính bản thân trẻ em có thể là một  sự hỗ trợ lớn lao cho chúng ta trong việc hiểu rõ vấn đề đạo đức này. Vì vậy, tôi nói rằng đời sống của đứa trẻ và người lớn là hai  chuyện khác nhau  nhưng có thể hổ trợ cho nhau. Không nghi ngờ gì, do điều mà trẻ đã cho ta thấy, chúng ta có thể xét đến đạo đức trong tương quan với đời sống xã hội. Bởi ý nghĩa của đạo đức là mối quan hệ của ta đối với người khác và là sự thích nghi của ta đối với đời sống cùng với người khác. Do đó đạo đức và đời sống xã hội  được kết hợp rất chặt chẻ với nhau.

Tôi nghĩ  là tôi không cần lặp lại rằng phương pháp của chúng tôi  chú trọng đến sự phát triển của cá nhân và nhân cách.  Khi  khảo sát nó dưới ánh sáng này, người ta thường nghĩ rằng phương pháp này thiếu xót về mặt giáo dục xã hội, bởi quan niệm phổ biến cho rằng  nếu ta nói đến cá thể, ta khôngchú ý  đến xã hội và ngược  lại. Do đó, họ nói rằng nếu phương pháp của chúng tôi mang tính cá thể thì nó không thể có tính xã hội.

Nay rõ ràng là ta không thể phát triển cá thể bên ngoài xã hội. Và ta không thể thực sự có một xã hội trừ khi nó được tạo ra bởi các cá thể. Sự phát triển nhân cách này có những hình thức khác nhau tùy theo  lứa tuổi khác nhau, và giáo dục về đạo đức phải để ý đến các hình thức khác nhau này.

Trong thiên nhiên, chúng ta thấy tất cả các tập hợp của động vật được tạo thành bởi các cá thể khác nhau. Nếu chúng ta quan sát con ong, hay con kiến, chúng ta phải nhìn nhận rằng chúng tạo thành một xã hội_ một xã hội được tạo nên bởi những cá thể khác nhau, mỗi cá thể có chức năng riêng của nó. Tôi đưa ra hai ví dụ này bởi các loài côn trùng này có những bản năng phục vụ cho sự hiện hữu của chúng, và những “bản năng xã hội”  mà các nhà sinh vật học và Maeterlinck* đã mô tả. Bây giờ một trong những cá thể này, sau này sẽ trở thành một thành phần của xã hội, khi nó phát triển, các bản năng xã hội cũng triển nở trong bản thân nó. Tất cả điều này minh họa rằng không có sự đối kháng giữa tính cá thể và xã hội; cái này liên hệ mật thiết và tùy thuộc vào cái kia.

Nếu các cá thể khác nhau phải sống hài hòa trong một xã hội, với một mục đích chung , phải có một bộ qui luật mà ta gọi là đạo đức. Do đó chúng ta có thể xem đạo đức như một hình thức thích nghi với một đời sống chung, để đạt được một mục đích chung. Đạo đức thường được xem là một sự trừu tượng; chúng ta muốn xem đạo đức  là một kỹ thuật để chung  sống một cách hài hòa.  Cần phải quan tâm đến đạo đức bởi ta không thể nào sống mà không có kỹ thuật này. Đây không phải là một nhìn rất cao siêu về đạo đức, nhưng nó rất thực tiển. Ta có thể so sánh đạo đức như cái mô giữa các tế bào sống. Một cơ thể có đạo đức không thể nào được xây dựng lên mà không có mô liên kết này.  Đứa trẻ đã cho chúng ta thấy điều này một cách rất đơn giản, cách có thể dùng để hướng dẫn cho chúng ta. Luân lý đã được xem là một cái gì trừu tượng liên qua đến người lớn, mà không xét đến trẻ em. Ngược lại chúng ta phải xem đạo đức là một thực tại của đời sống, có thể khảo sát ở đứa trẻ đang lớn. Đó là một thực tế của đời sống có những giai đoạn khác nhau, theo các giai đoạn mà  đứa trẻ trải qua.  Thật thú vị khi thấy cách thức đứa trẻ phơi bày ra nó _ bởi đây là một trong những cống hiến mà trẻ thơ đã mang đến cho chúng ta.

Trước khi mô tả các dữ kiện, tôi muốn trình bày về các nguyên tắc mà trẻ đã cho ta thấy.  Chúng tôi đã thấy rằng các biểu lộ được gọi là “ sự ngỗ nghịch’’ ở trẻ tự nhiên biến mất. Chúng ta cũng biết cái được gọi  là vô đạo đức ở trẻ em có những giới hạn  và những đặc tính khác cái của chúng ta. Giờ đây nói dối , bất trật tự, bất tuân, biếng nhác, v.v. được gọi là sự vô đạo đức ở trẻ em, và chúng ta muốn sửa đổi các khiếm khuyết này. Chúng ta cũng muốn dạy trẻ sự tử tế, v.v. đối với các bạn hữu của chúng và các thú vật. Đấy là sự hỗ trợ đạo đức mà ta có thể trao cho trẻ.

Nếu ta muốn khởi sự cải tổ xã hội người lớn, chúng tôi tin rằng ta phải bắt đầu từ trẻ em và cố gắng dạy chúng về tình thương, hòa bình, tình huynh đệ, v.v. Đặc biệt ngày nay, chúng  ta cảm thấy có nhu cầu này và thường nghe đến nhu cầu cần có một nền đạo đức cao hơn và người ta nghĩ rằng giáo dục phải quan tâm đến nó. Hy vọng của xã hội nằm ở chỗ này. Bây giờ chúng ta phải nhìn kỹ đến điều này bởi tôi chắc chắn là niềm tin rằng thế giới sẽ tốt đẹp hơn nhờ sự rao giảng một số nguyên tắc nào đó chỉ là một điều ảo tưởng. (Nó khiến chúng ta nhớ là có người đã nghĩ rằng nếu tất cả mọi người nói cùng một thứ tiếng, thì hẳn sẽ có hòa bình_ thì hãy nhìn qua nước Spain (Tây Ba Nha)!)

Tôi cảm thấy đây là một con đường khó khăn mà chúng ta đang đi theo và chúng ta phải tìm ra người có thể dạy ta điều gì thực tiển hơn.  Con người có thể dạy chúng ta chính là trẻ thơ. Trẻ em có thể khai minh cho chúng ta về nguồn gốc của xã hội và có thể chỉ ra cho ta lối thoát khỏi vấn đề rất phức tạp này. Nhiệm vụ của chúng ta là giúp trẻ và chờ xem cái gì  trẻ sẽ tỏ lộ cho chúng ta.

Một số sự kiện mà chúng tôi đã đạt được qua các kinh nghiệm này đặc biệt thú vị.  Một chuyện là,  bất cứ khi nào có thể, đứa trẻ có khuynh hướng độc lập khỏi sự giúp đở của kẻ khác, nhất là của người lớn. Rồi khi thủ đắc được sự độc lập, trẻ tìm kiếm sự gắng sức của bản thân. Điều này có nghĩa trẻ học cách tự vận hành một mình. Nếu  trẻ không thể thủ đắc sự độc lập này, trẻ không hiện hữu như một cá nhân_ bởi đặc tính của một cá nhân là kẻ có thể tự vận hành một mình.

Khi trẻ đã có sự độc lập này, mối quan hệ của trẻ với người lớn đã thay đổi. Trẻ dể thương và bình thản hơn. Trẻ không còn sống dưới ách áp bức (sự ám thị trí óc của người lớn) do đó trẻ mất hẳn sự ác cảm. Điều này cho thấy quan hệ hài hòa giữa người lớn và đứa  trẻ không chỉ phụ thuộc vào lòng yêu mến nhau. Nói đúng hơn, sự cảm thông và tình yêu tùy thuộc vào việc đứa trẻ có thủ đắc được sự độc lập của trẻ hay không.

Khi trẻ thấy mình đang ở trong môi trường mà chúng tôi đã chuẩn bị , sự giao tiếp xã hội với các trẻ em khác bắt đầu.  Lập tức, vấn đề lại nẩy sinh là làm sao tất cả các em có thể được tự do trong cùng một không gian đóng, khi mỗi đứa trẻ có thể hành động theo cách nó muốn. Kinh nghiệm trong các quan hệ tức khắc xảy ra. Đó là kinh nghiệm có tính xã hội vì phải sống chung như thế. Đó là một kinh nghiệm xã hội tiếp diễn ra suốt trong ngày. Ta hẳn nghĩ rằng các em sẽ đánh nhau, nhưng không, các trẻ em đã giải quyết được vấn đề. Chúng ta có thể tóm tắt điều này bằng cách nói rằng đứa trẻ đã để các bạn khác được hoạt động khi nào bé cũng có thể hoạt động. Mỗi em tôn trọng công việc của người khác. Điều này cho thấy  mối quan tâm của các cá thể này là được hoạt động.

Cũng lạ lùng khi thấy rằng nếu một em gặp vài khó khăn trong công việc, các đứa trẻ khác không bao giờ tự nhiên giúp em. Điều này có vẻ là điều dở đối với một giáo viên khi họ nghĩ rằng các trẻ em phải học biết giúp đở nhau. Ngược lại đứa trẻ thấy sự cố gắng đang diễn ra nên trẻ không giúp. Nhưng nếu có sự cố không may xảy ra, nếu có tai nạn khi sự giúp đở thật sự cần thiết, đứa bé sẽ đứng lên và đến để giúp đở. Bé sẽ bỏ tất cả công việc đang làm, dù quan trọng bao nhiêu, để đến giúp.  Đây là một mối quan hệ xã hội rất khác với quan hệ của chúng ta. Người lớn chúng ta luôn luôn sẳn sàng giúp đở nhữngngười  không cần giúp, nhưng nếu kẻ nào thật sự cần giúp, một sự hổ trợ đòi hỏi ta phải hy sinh, lập tức chúng ta  tìm cách thoát khỏi  chuyện phải giúp họ.

Sự cố gắng liên lủy và kinh nghiệm sống chung với nhau này là điều quan trọng. Chúng ta phải nhìn nó từ quan điểm của một kinh nghiệm xã hội có tính liên tục, do có một sự phát triển kép, sự phát triển của cá nhân và phát triển của các mối quan hệ xã hội. Đây là một trạng thái yên tỉnh, một trạng thái vận hành bình thường và khi nó hiện diện, các tình cảm được bộc lộ. Bấy giờ, ta thấy được các tình cảm chân thật về yêu thương và đồng cảm thật tinh tế. Tôi muốn đưa ra một thí dụ minh họa sự khác biệt về các tình cảm này khi  bộc lộ ở người lớn và đứa trẻ. Ở đấy, tôi là người lớn , và chuyện xảy ra ở ngôi trường chúng tôi ở Hòa Lan. Chúng tôi có một con dê nhỏ vẫn còn được nuôi bằng sửa, nhưng nó cũng có thể ăn cỏ. Tôi đang cho nó ăn cỏ và luôn cầm cỏ càng lúc càng cao hơn, để xem nó với tới được bao xa trước khi tôi đưa cỏ cho nó ăn. Thế là tôi thấy một em bé nghiêm trang đến gần, từ phía sau và nâng đở con dê lên để nó có thể lấy được cỏ dể dàng hơn.  Điều ấy cho thấy người lớn chúng ta có thể hoàn toàn vô ý thức khi làm một chuyện không đúng. Trong khi sống với trẻ em, ta luôn luôn nhận được những bài học này. Ta làm nhiều việc, không có ý xấu, như tôi đã làm, nhưng đứa bé có nhận thức tinh tế hơn trong quá trình phát triển của bé.

Từ đây chúng ta có thể thấy rõ ràng cái gì cần nên cho nhằm để giúp đứa trẻ. Đó là cho trẻ cơ hội được độc lập, đượ sống chung và trải qua các kinh nghiệm có tính xã hội . Chúng ta cũng thấy rằng đứa trẻ luôn luôn chọn cái gì khó để làm. Đây là điều mà chúng ta  hẳn không bao giờ nghĩ đến. Chúng ta hẳn đã không nghĩ rằng đứa trẻ sẽ tìm cách làm mọi việc một mình với sự cố gắng như vậy.  Có gì tốt hơn là có một cuộc sống với một người yêu thương luôn làm mọi việc cho ta và ta không tự làm gì cho mình cả. Ai có thể nghĩ ra rằng,  từng bước, đứa trẻ từ chối sự giúp đở. Bé chọn con đường hẹp mà chúng ta có thể nghĩ là khó khăn. Vâng, chú bé nhỏ xíu này đã chọn lối hẹp, đường thẳng, hướng đi mạnh mẻ. Thế là chúng tôi thấy đứa trẻ  hăng say làm việc khó, điều mà chúng ta thấy không cân xứng với tuổi  tác của bé. Tôi tin một trong các bạn đã kể cho tôi nghe về một kinh nghiệm trong đó bạn đã quan sát rằng khi ai đưa cho đứa bé một cái thìa từ trên bàn để bé dùng, đứa bé đặt cái thìa lại trên bàn và tự nó lấy cái thìa cho chính nó.

Thế là chúng tôi hiểu ra rằng để tăng trưởng, cá nhân cần phô bày nỗ lực, tự vận động và không bị lệ thuộc vào người khác. Bấy giờ sự tự lập này chỉ thủ đắc được bằng sự gắng sức.  Tự do là sự độc lập thủ đắc bằng chính sự cố gắng của bản thân.  Rõ ràng đây là một sự tác tạo, tăng trưởng, do đó chỉ có thể đạt được qua một kinh nghiệm lâu dài. Đó là ‘sự tự khẳng định giá trị’ của nhân cách, trở nên ý thức về giá trị của chính bản thân. Không có điều này, như các nhà tâm lý gia đã nói, đứa trẻ chỉ cảm thấy được giá trị của chính nó, nếu nó được yêu thương. Đây là’ sự tự khẳng định giá trị’ khác,_ trẻ độclập, trẻ chắc chắn về chính hành động của mình và biết cách hành động. Đây là nền tảng và qui luật mà trên đó tâm hồn phải đứng lên. Tất cả những sự còn lại, sự dễ thương, v.v. chỉ là thứ yếu trong sự ‘sự tự khẳng định giá trị’ của nhân cách.

Để nhân cách của đứa trẻ được ‘tự khẳng định giá trị’, phải có một nền tảng rất rõ ràng trong kinh nghiệm mang tính xã hội của con người.

Điều này đúng cho các trẻ nhỏ và các em lớn hơn. Chỉ có các điều kiện là thay đổi. Đứa lớn hơn không còn chỉ hài lòng  với chuyện tự làm cho chính bản thân nó. Không đúng nếu nghĩ rằng đứa trẻ bảy tuổi ‘’tự khẳng định giá trị ’ của nó bằng cách gài nút áo choàng hay lau bụi trên bàn. Như thế chưa đủ. Các cơ hội trong qúa khứ về kinh nghiệm xã hội không còn đủ đối với đứa trẻ lớn hơn. Chúng ta phải cung cấp cơ hội rộng rãi hơn cho đời sống xã hội. Chúng ta phải cho trẻ cơ hội để  cố gắng hơn nữa.

Ở mỗi lứa tuổi,  ta phải tìm ra cơ hội cho sự cố gắng lớn nhất và kinh nghiệm xã hội lớn nhất mà ta có thể tích cực đạt được. Chính vì vậy tôi đã nói lúc trước rằng đứa trẻ bảy tuổi phải có các thứ  kinh nghiệm xã hội khác. Chúng tôi có thể nói rằng cho đến năm bảy tuổi, các kinh nghiệm trải qua trong một căn nhà nhỏ thuộc về đứa trẻ. Nay  nó phải bước ra khỏi nhà và phải nỗ lực nhiều hơn.

Căn bản chung là thỏa mãn các năng lượng xây dựng của con người, những gì còn lại sẽ theo sau. Nếu các năng lượng định hình không được thỏa mãn, sẽ có những  “cơn hỏa giả tạo” khiến cá nhân và đời sống xã hội bị rối loạn.

Sự khẳng định giá trị của cá nhân liên quan mật thiết với sự cố gắng tối đa. Hệ quả là đứa trẻ luôn luôn bị thôi thúc tiến đến một cuộc sống đòi hỏi khó khăn hơn. Thay vào đó, chúng ta theo bản năng  luôn trao cho nó một đời sống dễ dãi hơn. Làm cho mọi chuyện dễ dàng hơn có nghĩa là đứa trẻ không được thỏa mãn và sự phát triển của nó sẽ mang nhiều khiếm khuyết. Trẻ cần cảm nhận là nó có khả năng vượt qua các chướng ngại, có khả năng luôn luôn làm những việc khó khăn hơn. Bản năng của người lớn có khuynh hướng khiến đứa trẻ không thể đạt được sự phát triển này. Ý tưởng giúp đở và che chở chiếm quá nhiều chổ trong trí óc của chúng ta. Tôi muốn nói là sự che chở trực tiếp mà đứa trẻ cảm nhận, không phải sự che chở mang  hình thức tổ chức xã hội  cần thiết cho sự phát triển của nó.

Tổ chức Hướng Đạo là một  giải đáp của xã hội đối với các nhu cầu xã hội của đứa trẻ ở lứa tuổi đó khi nó có nhu cầu bước ra khỏi khuôn khổ của gia đình và học đường. Nó cho trẻ cơ hội được đi ra ngoài. Có lần tôi thấy một em Hướng Đạo sinh tám tuổi, trong bộ đồng phục mới, nhưng em không có vẻ hài lòng. Tôi ngạc nhiên và hỏi tại sao em lại có vẻ buồn khi được mặc đồng phục mới. Em nói rằng bộ đồng phục vô ích bởi mẹ em vẫn đi theo em khi em đi ra ngoài. Điều thỏa mãn em là  nhận thức được rằng em có khả năng đi ra ngoài một mình để gặp gở người  em không quen biết và cùng cố gắng với kẻ ấy.

Làm cách nào để có thể mở rộng phạm vi xã hội của trẻ? Để thực hiện điều này, đúng là em phải học một điều gì.  “ Em muốn đi ra đường?” Thì em phải học một số qui luật. Em muốn ra khỏi nhà? Thì em phải học sống một đời sống đơn giản. Trẻ thích cảm giác nó có thể đi trong cuộc sống, mang tất cả những gì cần thiết cho cuộc sống của nó trên hai vai của chính nó. Trẻ cũng mong ước đi ngoài lộ và  giao thông trong an toàn. Nên đứa trẻ mong muốn tuân thủ tất cả những luật lệ cần thiết để sống một đời sống tốt đẹp hơn.

Cùng cách thức ấy, ta có thể dạy về đạo đức và xã hội.  Để dạy trẻ biết tôn trọng người khác, để giúp đở những ai cần được giúp. Để học cách có khả năng giúp đở. Trẻ thủ đắc phẩm cách, danh dự ở tuổi của trẻ, và một số nguyên tắc đạo đức. Đấy là sự trao truyền những nguyên tắc đạo đức chung với các kinh nghiệm có tính xã hội, khi sống qua các kinh nghiệm của bản thân.

Bây giờ tại sao sinh hoạt này chỉ giới hạn trong bộ qui tắc về đạo đức và hình thức sinh hoạt của Hướng Đạo sinh? Tại sao không xử dụng nó để phát triển văn hóa và những ước vọng của tâm hồn hướng đến cuộc sống quanh trẻ? Tại sao các em không thể chiêm ngưởng thiên nhiên và các nguyên tắc của con người khi trẻ có cơ hội có kỷ luật và độc lập. Hãy để các em đi ra ngoài và tiếp xúc với thiên nhiên, với Thượng Đế, Đấng Tạo hóa, mà trẻ có khả năng tìm ra trong đời sống giản dị này. Hãy để các em  đến giữa mọi tầng lớp xã hội  để các em có thể  thấy cách họ sinh sống ra sao. Qua đó, cảm nhận về công lý, tự nhiên đã có trong mỗi cá nhân, có thể triển nở qua kinh nghiệm.

Ta không thể nào xét đến đời sống tâm linh mà tách rời khỏi nền tảng này. Ta phải tự tách rời khỏi những giềng mối quá hạn hẹp của con người.  Muốn đạt đến đời sống tâm linh, ta phải từ bỏ cuộc sống dễ dãi. Chắc chắn ta được đòi hỏi phải mạnh mẽ hơn và phải hiểu phải ứng xử như thế nào đối với những người quanh ta, và nhận biết cách sống của kẻ khác trên thế giới. Thế nên, ta cũng nên chiêm ngắm trời đất vì tất cả sẽ  khiến tâm hồn trở nên cao thượng hơn. Đời sống tôn giáo đòi  hỏi sự tự kiểm mình và sự hiệp thông với kẻ khác. Cả hai điều này được kết hợp với nhau.

Vậy tôi xin nhắc lại rằng chúng ta không thể trao truyền nguyên tắc bằng cách  giảng dạy mà bằng kinh nghiệm xã hội được kéo dài. Tôi không còn đủ giờ để nói tiếp . Tôi chỉ có thể nói rằng khi trẻ em lớn lên, đời sống của chúng trở nên phức tạp hơn. Để đáp ứng các nhu cầu nầy,  tại sao xã hội chỉ đưa ra thể thao và trò chơi? Tại sao chỉ có hãnh diện khi chiến thắng trong trò chơi? Tại sao không nhắm đến việc làm cho cá nhân được mạnh mẽ về mặt tâm lý? Tại sao không thiết lập nền thể thao tinh thần qua các trải nghiệm có tính xã hội?  Tại sao chúng ta không có giải thi vô địch cho những con người mạnh mẽ về mặt đạo đức?

Nghiem P. M dịch

© 2012 NPM

Bài thuyết trình của Bác Sĩ Maria Montessori, tại Đại Hội Nghị Montessori, Edinburgh năm 1938

Nguyên tác Anh Ngữ: Moral and Social Education (Maria Montessori)  © AMI

Courtesy of EsF

*Ghi chú: Maaurice Maeterlink, (1862-1949), giải Nobel về Văn chương 1911 (http://ww.nobel.se/index.html)

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: