Đất và con người

bởi tuonglaivietnam

Tác giả: TS Thái Công Tụng

Đất ra đời cùng với sự sống nghĩa là từ lâu lắm, trước khi loài người xuất hiện . Và từ khi loài người hiện hữu thì đất đã cưu mang con người . Nếu sống gần đất phì nhiêu thì kinh tế phồn thịnh, dân tình ấm no, văn hoá nẩy nở . Nhiều nền văn minh điêu tàn vì đất kiệt quệ, nghèo nàn .Các nền văn minh nhân loại cũng từ vùng đất phù sa phì nhiêu như dọc sông Nil, sông Tigre và Euphrate ở Trung Đông, sông Hồng ở Việt Nam, sông Hoàng Hà và Dương Tử ở Trung Quốc, sông Hằng ở Ấn Độ

* * *

Abstracts

This  paper  about Soils and Men is structured into 12 sections
Section 1: following general introduction about soils in various Vietnamese poems and folk literature, various questions about soil are presented: what is soil? where does it come from? are all soils fertile? how does soil work? main problems of soils ? what can we do to manage soils sustainably etc.
Section 2 explains  what is soil. Soil can form from the rocks below, or from rocks a very long distance away. Soil is made up of three main components: minerals that come from rocks below or nearby, organic matter which is the remains of plants and animals that use the soil, and the living organisms that reside in the soil. But other factors such as climate, vegetation, time, the surrounding terrain, and even human activities (eg. farming, grazing, gardening etc.), are also important in influencing how soil is formed and the types of soil that occur in a particular landscape.
Section 3 Soil and its relationships with  geosphere, hydrosphere, biosphere and atmosphere is explained and discussed .
Section 4 deals about soil microorganisms which range in size from the tiniest one-celled bacteria, algae, fungi, and protozoa, to the more complex nematodes and micro-arthropods, to the visible earthworms, insects, small vertebrates .. They help break down crop residues and manures and, as they use the energy of these materials, mix them with the minerals in the soil. As these organisms eat, grow, and move through the soil, they make it possible to have clean water, clean air, healthy plants, and moderated water flow.
Section 5 discusses about the main nutrient cycles.
The Earth has a limited quantity of chemical elements from when it was formed;because the chemicals on Earth function in a closed system, neither significantly increasing nor decreasing in quantity, they are recycled throughout the Earth’s biological and geological cycles. The carbon and nitrogen cycles are briefly described.
Section 6 deals with soil problems such as soil erosion due to water, to wind; physical degradation with landslides, bank erosion, chemical degradation with eutrophication, salinisation, acidification ,land degradation, desertification.
Section 7 discusses about the role of soils in society and environment sustainability. Soils provide goods and services. Soils have cultural values. Men have improved the soils through irrigation and drainage, flood control but also create erosion through deforestation, made soils compact through overstocking, salinisation by cutting mangrove forests. The role of soil maps is explained .
Section 8 deals with the essential functions of soils. Not only they provide food and fibers but also regulate water flow, recycling nutrients, exchanges gases with the atmosphere, cleaning air and water.  With soils, men made bricks, tiles, ceramics
Section 9 deals more specifically on soil pollution which may be caused by pesticides, fertilizers, the disposal of industrial and domestic waste products
Section 10 discusses the two specific ecosystems, namely wetlands and dryland ecosystems . Wetlands typically occur in low-lying areas at the edges of lakes, ponds, streams, and rivers, or in coastal areas protected from waves  . Wetlands prevent flooding by holding water much like a sponge. By doing so, wetlands help keep river levels normal and filter and purify the surface water. Wetlands accept water during storms and whenever water levels are high. When water levels are low, wetlands slowly release water. They can be used for crop production but also for other purposes: ecological tourism, biodiversity conservation. Drylands are in desert areas where rainfall is excessively small.  Soil fertility degradation still remains the single most important constraint to food production in sub-Saharan Africa
Section 11 discusses soil management for sustainability. Management choices affect the amount of soil organic matter, soil structure, soil depth, water and nutrient holding capacity. Agroforestry, social forestry, fertility sustainability are discussed
Finally, conclusions are drawn in section 12. With the population pressure, soil is becoming an important factor so that mankind should take care of it, helping it to protect this heritage to maintenance or enhancement of biodiversity, water quality, nutrient cycling, and biomass production.
1.Tổng quan
Trái đất ta ở có sông ngòi, có biển cả, có núi non, có thung lũng; nhưng trên hết có đất . Đất giúp cây cối có thể bám rễ vào, đất giữ được nước đủ thời gian để rễ cây có thể hút được nước nuôi thân, nuôi lá, nuôi hoa. Đất cũng chất chứa vô số vi cơ thể để hoàn thành nhiều biến đổi sinh hoá như hủy hoại các động vật chết, sự cố định ni tơ khí quyển. Trong đất cũng còn có mối, kiến, giun đất..Và chính nhờ các hoạt động  của các loài này mà đất có một đời sống . Đất là một cơ thể sống: nhận vào, biến đổi, hủy hoại, phế thải. Đất không hiện hữu mà không có đời sống và đời sống không hiện hữu nếu không có đất . Loài người xây cất trên đất, trong đất và với đất . Đất là một cõi đi về .Đất không phải chỗ nào cũng giống nhau: sự sử dụng đất đai muôn màu muôn vẻ của con người (đồng cỏ, đô thị, ruộng lúa, ) đã phản ánh sự đa dạng của đất.
Đất đi liền với con người nên ca dao, tục ngữ, thi văn cũng nhan nhãn nhiều câu có chữ đất : đất thiêng, thần đất, thổ thần, thổ nghi, phong thổ, địa linh nhân kiệt v.v.Trong Phật học thì đất là một phần trong Tứ Đại: đất, nước, gió, lửa. Trong kinh Phật cũng có một kinh gọi là kinh Địa Tạng
Trần Hồng Châu có thi phẩm Nhớ đất thương trời ; nhà sử học Tạ Chí Đại Trường có sáchThần, Người và Đất Việt ; tục ngữ ta có câu Đất lành chim đậu; thi bá Nguyễn Du nói về Từ Hải là người đội trời đạp đất ỏ đời  hoặc:
Vẫy vùng trong bấy nhiêu niên
Làm nên động địa kinh thiêng đùng đùng.
Có những khủng hoảng lớn, người ta nói là đất bằng nổi sóng . Và cũng chính Nguyễn Du cũng đã sử dụng hình ảnh đất trong câu :
Gặp cơn bình địa ba đào
Vậy đem duyên chị buộc vào cho em
Khi thề nguyền cũng đem đất ra mà chứng giám:
Một lời đã trót thâm giao
Dưới dày có đất, trên cao có trời
Tản Đà cũng nói về đất:
Đất say đất cũng lăn quay
Trời say mặt cũng đỏ gay ai cười
Vô hình chung, danh từ đất thân thương đến nỗi ăn nhập vào nói chuyện, vào lời thơ tiếng hát, vào ca dao tục ngữ tóm lại vào đời sống cả vật chất lẫn tâm linh của con người Vi ệt như trong câu ca dao :
Đất có bồi có lở
Người có dở có hay
Em nguyền một tấm lòng ngay
Đinh ninh một dạ đến ngày trăm năm
hoặc trong câu hò nam nữ :
Nữ :
Phận em là phận má đào,
Nên chăng trời định biết sao bây giờ,
Chẳng nên riêng chịu tiếng hư,
Hỡi người quân tử bây giờ biết tính sao?
Nam:
Đất thấp, lại trời cao.
Dù cho đến chết anh nào dám quên!
Gặp nhau đây ta hãy phỉ nguyền,
Chết đi em hóa làm nước, anh liền làm (cá) để theo em.
Nhưng vượt lên trên các thơ, phú, ca dao, tục ngữ, hò đối đáp v.v. , đất là một tài nguyên quan trọng, nhưng lại ít người để ý . Khi dân số hiện nay trên 6 tỷ người và sẽ xấp đôi chỉ trong vòng 50 năm nữa, sản lượng lương thực cũng phải theo kịp với đà tăng dân số .Trong khi đó thì tài nguyên đất suy giảm với ô nhiễm, với sa mạc hoá, mặn hoá, mất dần với đô thị hoá và kỹ nghệ hoá . Con người phải hiểu thêm tài nguyên đất : đất là gì? đất từ đâu đến ? các liên hệ giữa đất và các yếu tố nước, khí hậu, cây cỏ? có những loại đất gì ? có phải đất nào cũng phì nhiêu ?tại sao đất bị xói mòn và làm sao duy trì sản xuất bền vững ? v.v.
Bài tham luận này cố gắng giải đáp các câu hỏi đó .
2.Đất là gì ?
Như vậy, các nhà thơ, nhà văn đều có đề cập đến đất, nhưng thử hỏi đất là gì ? Đất là do sự hủy hoại của các loài đá khác nhau, dưới tác động của mưa, của gió, của các sinh vật .Với thời gian, đất càng lúc càng dày hơn và tự biến đổi; đất dung nạp các chất hữu cơ do thực vật, rễ cây chết đi, các chất sét .. cũng như các biến chất khác như màu sắc (đất đen, đất đỏ, đất xám..), các tầng đất (đất mặt, đất sâu ..). Nếu so với chiều sâu của qủa địa cầu thì đất rất ư là mỏng, vì chỉ dày từ vài cm đến vài mét .Tuy mỏng nhưng lại rất quan trọng vì giữ nhiều chức năng cho sự sống còn của con người . Đất trồng trọt được chỉ chiếm 17% diện tích các lục địa, tức 5.5% diện tích trái đất (không tính đến diện tích rừng)
Đất cũng rất đa dạng vì có thể biến đổi theo loại đá, theo khí hậu, theo địa hình, theo thảo mộc và theo thời gian .
Đất ra đời cùng với sự sống nghĩa là từ lâu lắm, trước khi loài người xuất hiện . Và từ khi loài người hiện hữu thì đất đã cưu mang con người . Nếu sống gần đất phì nhiêu thì kinh tế phồn thịnh, dân tình ấm no, văn hoá nẩy nở . Nhiều nền văn minh điêu tàn vì đất kiệt quệ, nghèo nàn .Các nền văn minh nhân loại cũng từ vùng đất phù sa phì nhiêu như dọc sông Nil, sông Tigre và Euphrate ở Trung Đông, sông Hồng ở Việt Nam, sông Hoàng Hà và Dương Tử ở Trung Quốc, sông Hằng ở Ấn Độ .
Với con người thì đất như hình với bóng: đất dưới chân ta đi, dưới nhà ta ở, dưới đường ta xây. Đất cũng trước mắt ta với muôn vàn phong cănh: này là đồng bằng xanh mát, nọ là núi rừng âm u, kìa là bưng rạch ngổn ngang.
Đất tạo ra của cải, tác động đến sự giàu có .Ngày xưa, từ đời vua Lê Đại Hành nước ta có  tổ chức lễ Tịch điền  là lễ cày ruộng với chính nhà vua đích thân kéo những đường cày đầu tiên trên một thửa ruộng, và đó cũng có ý nghĩa mong cầu cho việc sản xuất nông nghiệp năm mới thắng lợi.
Phải mất rất nhiều năm, có khi hàng trăm năm đất mới hình thành nhưng nhiều tính chất của đất như độ xốp, độ phì nhiêu, cấu trúc, hoạt động sinh học v.v. lại có thể đổi thay nhanh chóng. Thời gian tạo thành đất thường lâu dài vì mọi quá trình như trực di, tích tụ, bào mòn, phân huỷ thực vật, trao đổi cation đều rất chậm và trải dài trên hàng ngàn năm . Có đất trẻ vì được bồi tụ mỗi năm như đất phù sa ven sông suối nhưng cũng có đất già nua trong đó nhiều tính chất đất không thay đổi nữa.
3. Đất và các tương quan  .
Nếu vẽ ra 4 vòng tròn giao nhau : vòng tròn thứ nhất tượng trưng cho thủy quyển, vòng tròn thứ hai tượng trưng cho khí quyển, vòng tròn thứ ba cho sinh quyển, vòng thứ tư cho thạch quyển thì phần chung của 4 vòng tròn đó chính là thổ quyển . Thực vậy, thổ quyển  liên hệ với cả 4 cái quyển kia :
31-đất liên hệ với thạch quyển.
Trái đất ta ở khi khởi đầu cách đây hơn 4 tỷ năm chỉ là một hình cầu nóng chảy . Lửa, hơi nóng và vật chất dưới lòng đất có thể phun lên cao nếu cấu trúc dưới lòng đất nơi đó thuận tiện để nó len lỏi đi lên.Vật chất phun lên từ núi lửa một phần là chất lỏng, một phần chất rắn và một phần là khí, tất cả đó được gọi là magma (dung nham).  Dung nham gồm những đá núi lửa bazan lần theo những khe nứt dẫn lên trên đất liền hay miệng núi tìm đường phun trào ra ngoài, chảy tràn lan như một dòng ‘suối lửa’.
Dần dà, đá nguội lại trên mặt tạo ra vỏ trái đất. Mảnh đất con người ở là biểu bì, là mảnh da của Trái Đất . Lớp mỏng trái đất ta ở chỉ dày khoảng 32 km. Lớp vỏ này dày hơn ở các lục địa và mỏng hơn dưói các đại dương. Các loại đá trong thạch quyển bị phong hoá, biến chất để lâu ngày sinh ra đất nhưng ngược lại các trầm tích đất trôi ra thềm lục địa và sự di chuyển các mảng kiến tạo đẩy các vật liệu này xuống sâu trong thạch quyển qua các hố đại dương, trộn lẫn với các dung nham núi lửa phun đá các loại lên mặt đất .Đá lại bị phong hoá rồi tạo ra đất.
.Đá mẹ sinh ra đất có thể là đá phún xuất như granit, bazan; cũng có thể là đá biến chất như diệp thạch, sa thạch do đó các loại đất cũng khác nhau. Đất phù sa tùy thuộc vào lưu vực trên đó có các loại đá khác nhau : nếu lưu vực có đá vôi thì đất phù sa có độ kiềm cao; nếu lưu vực nhiều đá axít như granit thì đất cũng có pH axit v.v.
Đá mẹ ảnh hưởng đến phần lớn đặc tính vật lý và hoá học của đất. Ví dụ: đất núi lửa ch ứa nhiều allophane, phân loại nhóm Andosols
32. đất liên hệ đến thủy quyển.
-có đất than bùn, nhiều chất hữu cơ, thường ngập nước quanh năm, gọi là Histosols
-có đất tại các miền châu thổ đồng bằng, nhóm Fluvisols  mới nhìn qua thì bằng phẳng nhưng về ẩm độ trong đất, có ruộng cao, ruộng thấp. Ruộng cao thì dễ thoát nước hơn,  ruộng sâu thì  úng thủy, đất nặng hơn nên kỹ thuật canh tác cũng khác.
Ca dao ta có câu :

Rủ nhau đi cấy, đi cày

>Bây giờ khó nhọc, có ngày phong lưu

Trên đồng cạn, dưới đồng sâu

Chồng cày, vợ cấy, con trâu đi bừa
– tại các nơi thủy cấp gần mặt đất thì có hiện tượng gley nghĩa là sắt ở dạng Fe ++ có màu xanh xám: đất đai thuộc nhóm Gleysols
-có các vùng đất kiềm: Solonetz
-có vùng đất nhiều muối do bốc hơi: Solonchak
có vùng ẩm-nóng xen kẻ với nhiều sét loại montmorillonit, phân loại trong nhóm Vertisols(Australia, Texas)
 
33-đất liên hệ với sinh quyển .
Cụm từ đất lành chim đậu cho thấy ngay có tương quan giữa thổ quyển (đất ) và sinh quyển (chim). Đất giúp cho sự  sinh trưởng thực vật trong sinh quyển xuyên qua các dưỡng liệu như chất đạm, lân, potat, các vi lượng nhưng ngược lại sinh quyển với cây cối cũng bị các loài vi khuẩn, nấm, giun, mối, kiến phân huỷ để rồi trở về đất . Lớp đất mặt có nhiều vi sinh vật giúp đất có thêm chất hữu cơ, chất khoáng giúp cây trồng . Sinh quyển cũng bao gồm rừng cây mà trên Trái Đất ta ở cũng có các loại rừng khác nhau .
 
34-đất cũng liên hệ với khí quyển, nghĩa là với khí hậu  thông qua vai trò của mưa, của loại và số lượng thảo mộc, độ phong hoá, mức độ phân hủy chất hữu cơ ; khí hậu ảnh hưởng đến nhiều tiến trình tạo ra đất:
-thực vậy, gần Bắc cực, thảo mộc chỉ gồm toàn các loài địa y (lichen ) và rêu và đất quanh năm băng giá : đó là đất tundra. Phân loại khoa học thì đất đai thuộc nhóm Cryosols.
-dưới miền đất tundra là miền đất taiga có rừng cây họ Tùng Bách với các loài cây bouleau có vỏ trắng; mưa nhiều hơn ở vùng tundra và vì đất bị acidhoá bởi các nhựa cây Tùng Bách nên dưỡng liệu và sét bị trực di xuống sâu, tạo thành các podzol. Đất thuộc nhóm Podzols
-cũng có những vùng địa lí như Ukraine, có đồng cỏ và thảo nguyên với nhiều cỏ rễ sâu có nhiều loại đất chernozem màu đen, nhiều mùn, nhiều bazờ. Đất đai thuộc nhóm Chernozems, Kastanozem (nếu khí hậu vùng đó khô hạn hơn), Phaeozems (nếu khí hậu chuyển sang ẩm ướt hơn)
-vùng khí hậu nhiệt đới mưa nhiều nên  sự phong hoá các  loại đá cũng mạnh hơn do đó trắc diện đất thường sâu hơn, đất có nhiều oxyd sắt và oxyd alumin, đúng như tên gọi  Ferralsols.
Sau đây là sơ đồ trình bày về các tương quan nói trên :

 .Các vi sinh vật trong đất
Đất không phải là vật vô tri vô giác mà là cả một kho tàng mầu nhiệm với muôn vàn vi sinh vật trong đó. Nhờ các vi sinh vật trong đất nên mới có chất mùn hữu cơ vì chất này do sự huỷ hoại của rễ thực vật. Các vi sinh vật góp phần trong chu kỳ đạm, chu kỳ lưu huỳnh, chu kỳ cacbon. Các vi sinh vật có thể rất nhỏ một tế bào như vi khuẩn, tảo, nấm và nguyên sinh động vật hoặc các tuyến trùng cho đến những sinh vật thấy được bằng mắt trần như giun, côn trùng, bò cạp, dế, mối ..Các vi sinh vật ăn, sinh trưởng, di chuyển làm đất tơi thoáng, giàu chất mùn và giúp thoáng hơi .. Mạng lưới thức ăn trong đất (food soil web) vận hành theo nhiều cách: chúng phân huỷ chất hữu cơ, xác rễ thực vật, chúng cố định được chất đạm từ khí quyển; chúng làm đất thoáng, giúp nước thấm vào đất dễ hơn và làm giảm đi dòng nước chảy tràn .
Có nhiều vi sinh vật rất có ích cho nông nghiệp như sử dụng vi khuẩn để tận dụng chất phế thải trong nông nghiệp như nuôi cấy nấm Fusarium monoliforme để sản xuất kích thích tố thực vật gibberellin, nuôi cấy vi khuẩn Bacillus thuringiensis để sản xuất thuốc trừ sâu vi sinh vật
41. vi động vật .Trên mặt đất có chuột, dế, rắn v.v., dưới đất có các động vật lớn nhỏ khác nhau:
Động vật kích thước lớn trong đất như bò cạp, rít, cuốn chiếu v.v. , ốc đất (slug), ốc sên (snail).  Chúng là những động vật giúp phân huỷ chất hữu cơ. Nói về con rít là một động vật chân khớp (Arthropod)  nhiều chân, thuộc họ Myriapoda, ta nhớ đến câu ca dao :
Đố anh con rít mấy chân
Cầu Ô mấy nhịp, chợ Dinh mấy người
Động vật kích thước vừa trong đất như giun đất (giun dẹp, giun vòi, giun đốt ),các ấu trùng của sâu bọ, con mối (termite) . Giun đất (earthworm) làm đất thoáng và giúp nước dễ thấm vào đất, làm giảm nước chảy tràn . Các loài giun đất dễ bị ngộ độc với các hoá chất bảo vệ thực vật như các loại thuốc Carbamát, kể cả Sevin, Furadan  .Giun đất ăn các dư thừa thực vật còn lại trên đất để tạo ra chất hữu cơ và giúp phân phối/phân tán chất hữu cơ trong đất . Con mối sống với hàng vạn con trong mỗi tổ; chúng có vai trò giúp phân hủy xác thải hữu cơ nhưng chúng cũng gây nguy hại phá hủy cột nhà, tường nhà .
Cả thế giới có khoảng 2.600 loài mối. Hầu hết các loài mối  đều đóng vai trò quan trọng trong tự nhiên,  cách thức sinh tồn ảnh hưởng nhiều đến lý tính trong môi trường, thay đổi đất quanh ổ, tìm thức ăn, đào xới làm cho đất trữ được nước và dưỡng chất, giảm sự chai cứng của đất.
Động vật kích thước nhỏ, từ 1 đến 100 micromet như các động vật nguyên sinh (Protozoa) là những vi cơ thể có thể bơi trong nước giữa các mảnh đất .Một trong các nguyên sinh động vật rất thông thường là amib . Amib ăn vi khuẩn và nhờ vậy, giúp cây cối sử dụng nhanh hơn chất đạm và  giúp khống chế số lượng các nhóm vi khuẩn. Chúng ăn vi khuẩn, nấm men, nấm, xạ khuẩn .. Sản phẩm bài tiết cuối cùng của quá trình trao đổi đạm của chúng là ammoniac .Hoạt động tiêu hoá của động vật nguyên sinh cũng giúp giải phóng photphat . Ngoài nguyên sinh động vật, có thể kể giun tròn (roundworm),  tức tuyến trùng. Giun tuyến trùng (nematode) rất nhỏ, thường tập trung  ở những nơi có nhiều xác vụn hữu cơ thối rửa và giúp phân hủy nhanh. Phần lớn ăn rễ cây, làm cây bị suy yếu, héo chết khi xâm nhập vào các ống dẫn, làm cây còi cọc, cành bị uốn cong hoặc tạo thành u bướu . Giun tuyến trùng làm lan truyền các bệnh cây do nấm, vi khuẩn, làm cây bị thương, tạo điều kiện cho bệnh xâm nhập . Chúng có thể ăn vi thực vật (microflore) hoại sinh, tảo . Cũng có loại giun tròn ký sinh, ăn thịt, ăn động vật nguyên sinh .
42. vi thực vật như  các vi khuẩn, xạ khuẩn, nấm, tảo, địa y ..
Vi khuẩn (Bacteria) trong đất rất nhiều : trong 1 gram đất, có hàng triệu vi khuẩn : có vi khuẩn phân huỷ chất hữu cơ để tạo ra các chất đạm, lưu huỳnh, lân cho cây ; có loại giúp phóng thích các hocmon tăng trưởng giúp kích thích sự phát triển của cây .
Vài loại vi khuẩn quan trọng như Nitrosomonas, Nitrobacter giúp cố định chất đạm trong quá trình nitrat hoá,
Xạ khuẩn (Actinomycetes) là nhóm trung gian giữa vi khuẩn và nấm . Tuy không có nhiều như vi khuẩn nhưng chúng giữ nhiều nhiệm vụ quan trọng trong đất .Rất nhiều loài xạ khuẩn có khả nảng sinh chất kháng sinh : chất streptomycin là do một loài xạ khuẩn sinh ra ! Nhưng cũng xạ khuẩn gây bệnh cho khoai tây (Streptomyces scabies) .Đa số các chất kháng sinh do xạ khuẩn sinh ra có thể ức chế được vi khuẩn và nấm gây bệnh và nhờ vậy cũng giúp hạn chế được phần nào các tác nhân gây bệnh cho cây trồng .Xạ khuẩn có khả năng phân huỷ nhiều hợp chất hữu cơ như cellulose tồn dư trong đất do xác thực vật để lại để tạo ra chất mùn .
Nấm (fungi) trong đất cò nhiều loại, kích cở và hình dạng khác nhau . Có loại nấm men (yeast) thường ở dạng đơn bào (one-celled yeasts) giống như vi khuẩn nhưng kìch thườc thường lớn gấp nhiều lần và cũng có loại nấm sợi (filamentous, threadlike fungi). Vài loại nấm sản xuất ra hocmon cây, và có loại nấm sản xuất các kháng sinh, kể cả penicillin. Nhưng cũng có nấm gây bệnh (Rhizoctonia, Pythium, Fusarium, Phytophtora, bệnh Mildew ). Nấm giúp phân huỷ chất hữu cơ.
Tảo (Algae) .
Hiện ra như một lớp mỏng màu xanh lục trên mặt đất, sau một cơn mưa. Khác với các cơ thể khác trong đất, tảo tự nó sản xuất ra thức ăn xuyên qua sự quang hợp. Vài loại tảo có thể cố định nitơ để rồi sau đó phóng thích cho cây
Điạ y (lichen ). Địa y và tảo là những thực vật đầu tiên chiếm cứ các đá còn trơ trọc .Chính nhờ các loại  tiền phong này đất mới được tạo thành và sau đó mới có thực vật cấp cao sinh trưởng . Ròi sau đó cây chết đi, vi cơ thể phân huỷ chất hữu cơ để tạo thành các chất cần cho cuộc sống trên Trái Đất , thành những chu trình nitơ, chu trình cacbon, chu trình lưu huỳnh v.v..
43. Các tương tác giữa các vi cơ thể trong đất .
Mọi cơ thể trong dất từ nhỏ như vi khuẩn đến lớn như giun  cũng như sâu bọ trong đất  đều tác động lên nhau. Các loại vi cơ thể này có nhiều chức năng :
-có loại cọng sinh (symbiose) nghĩa là hai bên cùng có lợi : cọng sinh giữa các vi khuẩn Rhizobium với các cây họ Đậu, các rễ nấm (mycorhize) giúp cây tăng cường khả năng hút nước và chất dinh dưỡng .Rễ cây giúp cho các loài nấm này  chất hữu cơ để sinh tồn và các loài nấm  tạo điều kiện thuận lợi cho rễ cây hấp thụ các chất khoáng giúp cây sinh trưởng. Đây là loài nấm rất có ích cho một nông nghiệp sinh thái, bớt sử dụng phân hoá học.
-có loài hoại sinh (saprophyte) : đây là nhóm ăn xác hữu cơ thực vật như giun đất, mối, một số sâu bọ và một nhóm  sống nhờ xác vụn hữu cơ động vật; chúng phân huỷ chất hữu cơ để tạo ra chất mùn .
-có loài  ký sinh (parasite) như nấm gây bệnh trên rễ cây : Rhizoctonia, Pythium tạo ra nhiều  bệnh thảo mộc.
Vì sự đa dạng phong phú của các vi cơ thể trong đất nên cũng có các cơ thể có ích : nhiều loại trụ sinh do các vi khuẩn hình sợi gọi chung là xạ khuẩn (actinomycetes ) sản xuất ra.  Các vi cơ thể trong đất  có thể huỷ hoại nhiều hợp chất độc trong đất nên hiện nay khoa học cũng sử dụng chính các cơ thể trong đất để khử độc các đất bị nhiễm độc (xăng, dầu ).
Vài ví dụ : Phân hoá học nitrat khi vào nước ngầm có thể làm nước ô nhiễm. Vi khuẩnPseudomonas halodenitrificans có thể biến nitrat thành khí nitơ để khí này trở lại không khí .
Vài loại vi khuẩn khử độc khác :
Photphat : Moraxella
Thuốc sát trùng: Enterobacter
Dioxin: Brevibacterium
Cyanid: Thiobacillus, Rhizoctonia
5. Các chu kỳ sinh-đa-hoá
Đất là một cõi đi về. Đất là một cơ thể sống, với vô vàn vi sinh vật trong đất như giun, bò cạp, dế, các loài vi khuẩn .. cũng như rễ thực vật đều bổ túc và ích lợi cho nhau. Cây chết đi, bị phân huỷ tạo ra chất hữu cơ . Các vi cơ thể trong đất như nấm và vi khuẩn biến đổi chất hữu cơ thành chất vô cơ để rễ cây hấp thụ giúp cây tăng trưởng. Và cứ thế hữu cơ thành vô cơ, vô cơ trở thành hữu cơ, cái vòng luân chuyển ấy từ ngàn đời nay có phần xẩy ra trong đất, có phần xẩy ra trê

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

%d người thích bài này: