Vấn đề bóc lột lao động nhìn từ lý thuyết thặng dư của Marx và kinh tế hiện đại -phần III-

bởi tuonglaivietnam

Tác giả: Vũ Quang Việt[1]

Thị trường cạnh tranh hoàn hảo, thặng dư và vấn đề bóc lột lao động

Lý thuyết kinh tế tân cổ điển (neoclassical theory) đã chứng minh rằng trong thị trường cạnh tranh toàn hảo, lợi nhuận vượt mức lãi để dành theo định nghĩa ở trên (coi bảng 1) bằng không (zero). Do đó một nền kinh tế thị trường có cạnh tranh toàn hảo không có bóc lột lao động. Vậy thị trường cạnh tranh toàn hảo là gì?
Thị trường cạnh tranh toàn hảo (perfect competition) là mô hình lý thuyết trừu tượng và toàn bích. Nó là cơ chế trong đó các đơn vị tham gia, kể cả người bán và người mua, không ai kiểm soát được giá cả trên thị trường và họ có đầy đủ thông tin về thị trường, về kỹ thuật không những cho hiện tại mà còn cho cả tương lai để làm quyết định tối ưu, nói tóm lại là không có vấn đề rủi ro. Giá sản phẩm là cái có sẵn trên thị trường, do cung cầu định đoạt. Thị trường này tồn tại khi một sản phẩm có rất nhiều người bán (hoặc người sản xuất) và rất nhiều người mua, do đó quyết định của từng đơn vị nhỏ bé trong đó không ảnh hưởng gì đến giá cả của thị trường.
Trên thị trường, các đơn vị sản xuất tính toán nhằm tối ưu hoá lợi nhuận bằng cách phối hợp vốn, kỹ thuật và phương tiện sản xuất, vật tư và lao động, còn người lao động sẽ quyết định một cách hợp lý nhất việc sử dụng lao động của mình để có lợi tức và lựa chọn hàng hoá tiêu dùng đạt thoả mãn cao nhất. Có thể chứng minh là hệ thống thị trường tự do này là cơ chế sử dụng hữu hiệu nhất nguồn tài nguyên thiên nhiên và con người nhằm tạo ra của cải vì bất cứ một tác động điều tiết nào, dù không ảnh hưởng đến hiệu qủa làm ra của cải, cũng chỉ là sự phân phối lại: lợi của đơn vị này bù trừ thiệt của đơn vị khác. Trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo, lợi nhuận (profit) – tức là phần thặng dư vượt lãi suất tối ưu – bằng zero. Lý luận bình thường cũng cho thấy là nơi nào có lợi nhuận người sản xuất sẽ đổ xô vào, nếu như thị trường không độc quyền, cung do đó tăng so với cầu, giá sẽ giảm để cung cầu quân bình và lợi nhuận sẽ không còn.
Mô hình kinh tế thị trường trên và hệ luận của nó bắt nguồn từ Adam Smith nhưng được Gerard Debreu và Kenneth Arrow chứng minh nghiêm túc với các định đề toán học phản ánh các định đề (axioms) và giả định kinh tế cần thiết.[16]
Lý thuyết kinh tế thị trường ngoài việc chứng minh sự hiệu qủa của một thị trường cạnh tranh hoàn hảo khi không có phát triển, cũng đã đạt được cùng một kết luận cho cả trường hợp nền kinh tế có phát triển do tăng dân số và năng suất (kết qủa của tiến bộ trong phương pháp quản lý thức sản xuất và khoa học kỹ thuật). Trong trường hợp tối ưu đơn giản nhất khi có phát triển, được gọi là luật vàng (golden rule):[17]
Tốc độ phát triển = lãi suất[18] = tốc độ tăng tích lũy
Lý thuyết thị trường cạnh tranh toàn hảo không nhằm giải thích thặng dư hoặc lãi từ đâu mà ra mà chỉ nhằm giải thích giá trị tăng thêm được phân phối trên thị trường như thế nào. Thuyết tân cổ điển rút ra từ mô hình kinh tế được toán học hoá một kết luận là giá trị tăng thêm (hoặc sản phẩm tạo thêm ra) sẽ được phân chia hết khi lao động (lương) và tư bản (lãi) được trả theo năng suất biên. Lương trả cho lao động, lãi trả cho vốn là do thị trường quyết định khi người sản xuất tối ưu lợi nhuận còn nguời lao động tối ưu thoả mãn của họ.
Như vậy trên cơ sở của thị trường cạnh tranh toàn hảo, không có thặng dư bóc lột, ta có thể thấy một hệ luận quan trọng là để xoá bỏ bóc lột lao động, cần xây dựng một thị trường cạnh tranh toàn hảo. Hay nói khác đi, để giảm thiểu bóc lột thì nhà nước cần có vai trò tích cực trong việc xây dựng thị trường cạnh tranh toàn hảo. Hệ luận trên đưa đến phương pháp xoá bỏ bóc lột lao động khác với Marx. Hệ luận này cũng ngược lại hoàn toàn với cái nhìn là nhà nước không nên ảnh hưởng vào thị trường mà cứ để “bàn tay vô hình điều động.” Và như Marx đã nhận định, nếu cứ để thị trường hoàn toàn tự do, thì thị trường cạnh tranh tất dẫn đến độc quyền.

Thị trường thực tế: cạnh tranh không toàn hảo
Lý thuyết về thị trường cạnh tranh toàn hảo cũng đưa đến hệ luận là lãi suất trong các hoạt động kinh tế khác nhau sẽ ngang bằng khi thị trường đạt điểm tối ưu, và lợi nhuận bằng không.
Nhưng thực tế là lãi suất thường không ngang nhau và lợi nhuận không bằng không. Điều này có bốn lý do:
1. Thị trường thực tế mang tính độc quyền;
2. Thị trường thực tế có rủi ro theo nghĩa thị trường thực tế không hoàn hảo, và do đó các tác nhân trong thị trường không nắm được toàn bộ thông tin;
3. Sáng kiến.
Điểm một đòi hỏi việc cải tổ thể chế để bảo đảm không có độc quyền tức là tình trạng một hay một vài người bán và người mua (hoặc công ty) có thể quyết định giá trên thị trường.
Điểm hai có cùng nguồn gốc là thông tin không đầy đủ. Nhưng khác nhau ở chỗ có rủi ro có thể tính trước được, nhưng có rủi ro không thể tính trước được. Rủi ro tính trước được thường dựa trên xác xuất hiện tượng xảy ra trong quá khứ. Chẳng hạn trung bình người mượn tiền ngân hàng thì xác xuất trả lại là bao nhiêu, mất cắp trong bán hàng thì thường như thế nào. Lãi suất không cân bằng trên thị trường là do rủi ro này. Lãi suất thực tế sẽ bằng lãi suất thị trường trừ đi mất mát do rủi ro.
Cũng có rủi ro không tính trước được, chẳng hạn như việc đầu tư vào công nghệ tân tiến có khả năng thành công lớn mà khả năng mất sạch cũng lớn, do đó lãi suất thường cao hơn lãi suất trung bình rất nhiều (cho những người thành công). Rủi ro hiện diện vì thông tin không toàn hảo. Do đó vai trò của thông tin rất quan trọng. Nắm hoặc khuynh đảo được thông tin sẽ tạo ra lợi nhuận. Điều này cho thấy vai trò của nhà nước trong việc bảo đảm thông tin từ nhà nước là thông tin đại chúng, mọi người đều được hưởng như nhau, không thiên vị.
Điểm ba liên quan đến vai trò của sáng kiến (tất nhiên cũng bao hàm nhiều tính rủi ro) bao gồm tinh thần lập nghiệp (entrepreneurship), phát minh và tri thức nói chung. Người lập nghiệp có thể nhìn thấy lỗ hổng nhu cầu sản phẩm mới chưa được quan tâm trên thị trường, hoặc đơn vị sản xuất có sáng kiến và phát minh tăng năng suất có thể đạt được siêu lợi nhuận vì là người sẵn sàng đi đầu, do đó vô hình chung tạo thế độc quyền định giá nếu như thị trường chấp nhận sáng kiến, phát minh của họ. Họ có thể đạt siêu lợi nhuận. Nhưng siêu lợi nhuận sẽ dần dần mất đi vì các đơn vị sản xuất khác sẽ cạnh tranh cố gắng theo kịp do đó giá bị đẩy xuống. Để tìm hiểu xem siêu lợi nhuận có thể coi là siêu bóc lột không ta hãy xem xét thí dụ sau. Chẳng hạn một nhà sáng chế nghĩ ra một sản phẩm mới có thể làm hạ giá thành của rất nhiều nhà sản xuất khác. Nhà sáng chế nhìn thấy mối lợi nên thuê người làm, giả dụ không cần có tay nghề chuyên môn, để sản xuất công cụ đó và trả lương họ tương đương với lương cao nhất mà những người làm thuê không cần chuyên môn này có thể kiếm được trên thị trường. Do lợi ích mà sản phẩm này mang lại, người sử dụng cũng sẵn sàng trả giá rất cao cho các công cụ này, do đó tạo ra siêu lợi nhuận cho người sản xuất. Vậy siêu lợi nhuận này thuộc về ai? Về nhà sáng chế hay người lao động không tay nghề? Phải chăng lợi nhuận này là bóc lột lao động? Thí dụ này cho thấy sự gắn bó chặt chẽ của siêu lợi nhuận với tinh thần lập nghiệp, sáng kiến, phát minh và đóng góp của tri thức.
Sự tồn tại của siêu lợi nhuận chính là động lực thúc đẩy sáng kiến và phát minh làm tăng năng suất. Siêu lợi nhuận công ty Microsoft tạo ra từ phần mềm Windows dùng để điều hành máy tính cá nhân hiện nay có thể hiểu được khi sáng kiến của họ chưa có ai thay thế được. Nhưng cũng chính vì sợ cạnh tranh mà họ phải đều đặn giảm giá đồng thời tăng khả năng sử dụng để vừa mở rộng thị trường vừa bảo vệ thị phần. Nếu như nhà nước quốc hữu hoá hoặc đánh thuế đặc biệt vì sự hiện diện của siêu lợi nhuận, chắc chắn phát triển của công nghệ thông tin sẽ không nhanh chóng như vừa qua. Nếu nhà nước đánh thuế cao vào thu nhập kếch sù của người nắm đa số cổ phần Microsoft thì đây là hành động phân phối lại lợi tức, và không nhất thiết đưa đến giảm động lực làm việc của họ nếu như mức thuế giữ ở mức độ mà việc làm việc vẫn đưa đến nhiều thoả mãn hơn là ngồi không.
Lý thuyết thặng dư của Marx phân tích có tính trừu tượng hoá, giản lược mọi trường hợp vào tình trạng trung bình, do đó các trường hợp đặc biệt như trường hợp sáng kiến nói ở trên không có chỗ đứng. Thuyết thặng dư của Marx đã hoàn toàn bỏ quên động lực sáng kiến vì tư lợi và vai trò tích cực của nó trong phát triển kinh tế, nhất là động lực tạo ra sự phát triển có tính nhảy vọt. Ở một nền kinh tế công hữu, nếu như con người toàn hảo thì việc đưa sáng kiến có lợi cho mọi người cũng có thể không phải là ngoại lệ. Nhưng chỉ là không tưởng nếu việc xây dựng xã hội tốt đẹp đòi phải có những con người toàn hảo.
Một vấn đề nữa của lý thuyết thị trường toàn hảo là phải dựa vào một người ra giá (auctioneer) và thay đổi nó để quân bình giữa cung của người bán và cầu của người mua và một hệ thống thể chế điều hành nó. Thị trường gần nhất với thị trường cạnh tranh toàn hảo là thị trường chứng khoán, nhưng chính thị trường chứng khoán đòi hỏi một thể chế do con người tự thiết chế một cách rất rõ ràng, không phải dựa vào bàn tay vô hình mà có bàn tay quyền lực của tập thể xã hội thông qua hội đồng kiểm soát chứng khoán và hệ thống luật pháp được thiết chế nhằm ngăn chặn và trừng phạt những người muốn khuynh đảo thị trường bằng cách họp nhau định giá, dùng báo chí tung tin thất thiệt, lấy thông tin thống kê nhà nước trước khi được công bố, v.v. và thị trường này cần người hô giá (auctioneer). Ở trên tôi dùng chữ gần nhất là vì lý thuyết thị trường cạnh tranh toàn hảo giả định là mọi đơn vị tham gia thị trường đều có thông tin toàn hảo về thị trường, nhưng giả định này không có thực. Thông tin không toàn hảo có khi đưa đến hành động đàn lũ, thị trường chứng khoán trồi sụt lớn và bất ngờ đòi hỏi sự can thiệp nhất định của nhà nước như quyết định tạm dừng buôn bán xảy ra năm 1987 ở Mỹ.

Kết luận
Bài này trình bày lại lý thuyết thặng dư của Marx với kết luận rằng thặng dư có tính bóc lột lao động trong một nền kinh tế thị trường là điều vừa hiện thực, vừa có cơ sở lý luận. Bài viết cũng định nghĩa lại thặng dư theo quan điểm kinh tế mới và cho rằng lãi không phải là thặng dư lao động mà là giá ngang bằng (phải trả hoặc được hưởng) nhằm cân bằng giữa cung và cầu vốn trên thị trường. Thặng dư có tính bóc lột do đó chỉ là phần lợi nhuận. Nhưng trong một nền kinh tế cạnh tranh toàn hảo (perfect competition) thì, về mặt lý thuyết, lợi nhuận sẽ bị đẩy xuống bằng không (zero). Bài này cho rằng có hai cách xoá bỏ bóc lột:
• Xoá bỏ tư hữu và tập trung lợi nhuận và lãi vào tay nhà nước (quan điểm của Marx). Để đạt được nền kinh tế công hữu có hiệu quả tối ưu như nền kinh tế thị trường cạnh tranh toàn hảo thì phải xây dựng được một nhà nước toàn hảo và những người công dân toàn hảo, chí công vô tư. Điều này chỉ là ước vọng.
• Xây dựng một thể chế kinh tế thị trường cạnh tranh toàn hảo hoặc gần mô hình kinh tế toàn hảo để giảm thiểu thặng dư có tính bóc lột. Mô hình cạnh tranh toàn hảo hoàn toàn không đối kháng với việc phân bố lại lợi tức lao động, đặc biệt là qua thuế lợi tức trong xã hội để giải quyết các vấn đề xã hội mà kinh tế thị trường không giải quyết được. Kinh tế thị trường kiểu này hoàn toàn phù hợp với đòi hỏi của các chính sách xã hội khác như bảo vệ người lao động trên cơ sở có pháp luật bảo vệ hợp đồng lao động mang tính tự nguyện, bảo đảm lương tối thiểu, tôn trọng nhân phẩm, bảo đảm điều kiện thăng tiến cho người lao động, v.v. Các quốc gia Bắc Âu đã có lúc đánh thuế lợi tức đến mức 70% mà vẫn đạt được năng suất lao động và trình độ phát triển cao và không đi đến sụp đổ như đã xảy ra ở nhiều nước xã hội chủ nghĩa tại Đông Âu dựa trên cơ sở xoá bỏ tư hữu tư liệu sản xuất.
Nền kinh tế thị trường coi là tự nhiên điểm xuất phát của từng cá nhân trong xã hội. Đây là điểm mà nhiều người quan tâm vì nó là nguyên nhân tạo ra sự mất bình đẳng về cơ hội. Điểm xuất phát này có thể do việc thừa kế tài sản của cha mẹ, do điều kiện gia đình hoặc do tự nhiên (có người thông minh có người không; có người khoẻ mạnh, có người tật nguyền). Nhưng không thể cào bằng điểm xuất phát vì hậu quả của nó sẽ là mất động lực làm việc và để dành cho con cái. Ngay cả ở một nước xã hội chủ nghĩa hiện thực trước đây, ta cũng đã thấy hiện tượng không thể cào bằng này, như việc con một đảng viên thường hoặc một ủy viên bộ chính trị có lợi thế rất lớn so với một thường dân không đảng tịch. Tuy nhiên, ở một xã hội dựa trên kinh tế thị trường, vì lợi ích chung của xã hội, ta vẫn có thể hạn chế điểm xuất phát bằng cách áp dụng các chính sách đánh thuế tài sản thừa kế, cũng như các biện pháp cung cấp dịch vụ công miễn phí hoặc bù lỗ dịch vụ tư như trong giáo dục, y tế, văn hoá và nâng đỡ người không được tự nhiên ưu đãi. Đây là những điều nhà nước có thể làm mà vẫn tôn trọng sở hữu cá nhân.
Quan điểm của Marx về thặng dư là hoàn toàn logic nhưng để một xã hội “không tư hữu” vận hành có năng suất và bảo đảm công lý, có sáng kiến nhằm tạo bước nhảy vọt, thì mọi người trong xã hội đó phải toàn hảo. Nhưng, thực tế cho thấy ngay cả tôn giáo cũng thất bại trong việc tạo ra những con người toàn hảo, và một ý thức hệ chính trị như chủ nghĩa Marx hay bất cứ thứ chủ nghĩa nào khác cũng chưa chứng tỏ đã thành công trong việc tạo ra con người toàn hảo. Kinh tế thị trường toàn hảo chỉ đòi hỏi xây dựng một thể chế thị trường toàn hảo chứ không đòi hỏi con người toàn hảo. Nó coi con người là những đơn vị kinh tế vị kỷ, nhưng buộc phải tuân thủ một số qui định mang tính luật pháp của thị trường toàn hảo hay gần toàn hảo. Ngoài ra, con người còn phải tự ràng buộc mình vào đạo đức cá nhân như sự trung thực, tình nhân ái, nề nếp gia đình, yêu cầu tôn trọng người khác, tinh thần cộng đồng,…. Chúng là những điều mà truyền thống và văn hoá xã hội tạo ra và đòi hỏi. Cá nhân tự nguyện ràng buộc vì thấy chúng đúng, và cũng vì lợi ích bản thân, gia đình và cộng đồng.
Việc Đảng Cộng Sản Việt Nam dự kiến cho phép đảng viên làm chủ sở hữu doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường, như được trình bày trong Dự thảo Báo cáo Chính trị Đại hội Đảng lần thứ 10 (2006) có thể đưa đến một trong hai kết luận sau:
1. Nếu như Đảng vẫn trung thành với lý thuyết thặng dư cổ điển của Marx thì việc cho phép này là đi ngược với lý thuyết của Marx. Việc tiếp tục bảo vệ lý thuyết cổ điển này và hệ luận của nó nhưng lại cho đảng viên tự do “bóc lột”, là một hành động có tính nguỵ tín, tức là chủ trương một đàng, làm một nẻo. Không thể cho rằng đảng viên là công dân thì cũng có quyền như tất cả các công dân khác. Thí dụ cụ thể sau cho thấy lý luận này không đứng vững. Nếu giáo lý đạo công giáo không cho phép linh mục lấy vợ thì các linh mục không thể lấy lý do là các giáo dân khác có quyền có vợ để cho rằng mình cũng cũng có quyền đó. Việc linh mục có vợ chỉ hợp giáo lý nếu như giáo lý hiện tại thay đổi.
2. Nếu như Đảng thay đổi chính sách đối với đảng viên như trên dựa trên tinh thần sẵn sàng xét lại toàn bộ lý thuyết của Marx, và những hệ luận của nó trên tinh khoa học thì đó là dấu mốc quan trọng của một Đảng cầm quyền thấy ra trách nhiệm trước dân tộc và đất nước.
Chủ nghĩa Marx là một chủ nghĩa phê phán, và có giá trị về khoa học. Chính tính phê phán này đã đóng góp quan trọng vào sự thay đổi phương thức và hình thức hoạt động của chủ nghĩa tư bản, làm sụp đổ chủ nghĩa thực dân và đế quốc. Chính vì tính phê phán mà chủ nghĩa Marx đã được nhiều người coi là kinh thánh, và đã từng là tiếng gọi của đấu tranh giai cấp để giải phóng con người. Nhưng nó dần dần mất tính khoa học, không còn mang tính đổi mới và không được phát triển để giúp xem xét sự vận động của xã hội trong hoàn cảnh mới và do đó khó có thể phù hợp với sự vận động của thế giới hiện nay. Đảng Cộng Sản Việt Nam nếu muốn tiếp tục có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của xã hội và đất nước Việt Nam trong hoàn cảnh mới thì cần chủ động xem xét lại chủ nghĩa Marx một cách khoa học, hoặc vận dụng nó vào việc xem xét quá trình thay đổi xã hội hiện nay nhằm đổi mới cơ chế xã hội không còn phù hợp, và để có những chính sách kinh tế và xã hội phù hợp. Đó chính là tinh thần của phương pháp duy vật biện chứng. Chúng ta gần như không thấy hoặc ít thấy các công trình nghiên cứu về tình hình phân chia giai cấp hiện nay ở Việt Nam. Phân tầng giai cấp đã mang hình thức mới, đặc biệt là giai cấp tư bản. Giai cấp này hiện nay bao gồm giai cấp tư bản nhà nước, tư bản tư nhân và tư bản nước ngoài. Mỗi tiểu giai cấp này có quyền lợi riêng và đồng thời chia sẻ quyền lợi chung. Tính giai cấp không độc lập mà giao thoa với việc phân tầng nhóm lợi ích (coi bảng dưới). Những nhóm lợi ích này có vai trò đóng góp vào việc bảo vệ công lý và quyền lợi chính đáng cho thiểu số (như quyền của phụ nữ, dân tộc thiểu số, tôn giáo, địa phương, ngành nghề, công chức và cả đảng viên vừa thuộc thành phần đảng lãnh đạo vừa không tránh khỏi biến thành nhóm lợi ích,…). Họ đồng thời cũng nhằm tạo ưu thế riêng vượt trội các nhóm khác, có thể tạo ra sự trì trệ trong phát triển cũng như có hại cho lợi ích chung. Đây là những vấn đề cần nghiên cứu để có chính sách phù hợp nhằm bảo đảm tính công bằng về cơ hội và lợi ích chung.

Điều nữa cần xem xét lại để bổ sung chủ nghĩa Marx là vai trò của quyền lực và lạm dụng quyền lực. Có thể nói một trong những hạn chế rõ nhất của chủ nghĩa Marx, lại không phải là lý thuyết thặng dư, mà là việc không xem xét đến các yếu tố cơ chế phát sinh ra tham vọng của người có quyền lực, từ đó dẫn đến sự triệt tiêu tính phê phán của một chủ nghĩa dựa trên tính phê phán. Chính tham vọng quyền lực và lạm dụng quyền lực, khi không có cơ chế giám sát và cân bằng quyền lực trong xã hội cũng như cơ chế bảo đảm dân chủ tức là bảo đảm tính phê phán hay phản biện của các thành viên trong xã hội trong đó có thành viên của Đảng, đã tạo ra sự lấn áp cá nhân hay độc tài khi quyền tư hữu không được tôn trọng. Nhìn cụ thể vào xã hội với nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, ta thấy ở đó hầu hết các quyền tư hữu đã được công nhận nhưng đại bộ phận của cải xã hội vẫn thuộc sở hữu công, ở đó Đảng nắm chính quyền còn đảng viên được làm nhà tư sản. Với những con người không toàn hảo, ta có thể thấy viễn tượng là các thiếu sót trong cơ chế giám sát và cân bằng quyền lực như hiện nay sẽ tạo cơ hội cho tham nhũng không ngăn cản được. Điều này tất đưa đến sự suy thoái quyền lực, và rồi cuối cùng đưa đến tình trạng mất tính chính danh của quyền lực. Lúc đó chế độ sẽ tự sụp đổ. Do đó vấn đề lớn cần xem xét lại có thể không phải là lý thuyết thặng dư, từ đó đưa đến hệ luận là đảng viên có quyền làm nhà tư bản hay không. Vấn đề lớn cần xem xét lại là hệ thống quyền lực, và cơ chế giám sát và cân bằng quyền lực trong xã hội một xã hội có giai cấp và có phân tầng lợi ích phe nhóm. Cần đánh giá xem hệ thống đó có khả năng vừa bảo đảm sự trong sạch, vô tư và tính chính danh của quyền lực, vừa bảo đảm quyền tự do và dân chủ cho mọi công dân nhằm ngăn cản việc lạm dụng quyền lực hay không.

________________________________________
Chú thích
[1] Bài này đã qua vài lần sửa chữa, lần thứ nhất, sau buổi hội thảo tại Hà Nội; lần thứ hai sau hội thảo hè 2002; và lần cuối là 22/2/2006. Tác giả xin cám ơn anh Phan Huy Đường đã đọc rất kỹ bài và cho nhiều ý kiến có giá trị, đồng ý và không đồng ý. Tác giả sửa một số điểm tự thấy mình sai. Những điểm khác không cần sự điều chỉnh vì có sự khác ý kiến giữa tác giả và anh Phan Huy Đường.
[2] Ở bản thảo đầu, tôi viết đây là thời kỳ chủ nghĩa tư bản hoạt động hoàn toàn tự do mà không bị các định chế nhà nước ràng buộc và kiểm soát. Phan Huy Đường cho là làm gì có chuyện đó. Chủ nghĩa tư bản làm ra luật pháp hay dùng quyền lực để bảo vệ nó. Điều nhận xét của anh Đường là đúng. Tuy nhiên ở đây tôi chỉ muốn nói đến các định chế kinh tế hạn chế quyền lực của người chủ. Chẳng hạn nhà nước thiết lập ra lương tối thiểu, đóng bảo hiểm thất nghiệp, vai trò kiểm soát tiền tệ của ngân hàng trung ương, quyết định giá của các công ty độc quyền, cấm các hoạt động bè lũ trong việc định giá , đặt ra nguyên tắc kế toán và kiểm tra báo cáo tài chính đối với công ty có bán cổ phần trên thị trường chứng khoán, v.v.
[3] Capital, Vol. I, Encyclopaedia Britanica, Great Books of the Western World, Vol. 50, Chicago and London, trang 37.
[4] Bản thảo trước tôi dịch chữ “the first appropriator” là “người đánh cắp ban đầu”, nhưng anh Phan Huy Đường cho thế là không đúng vì Marx đã phê phán Proudhom về điểm này. Thặng dư không phải là do đánh cắp, lừa bịp, áp đặt mà là bản chất của chế độ tư bản trên cơ sở trao đổi đúng giá trên thị trường.
[5] Capital, Vol 1, sđd, giới thiệu chương 23, trang 279.
[6] Để phù hợp với quan điểm của Marx thuế sản xuất là một phần của giá trị thặng dư.
[7] Trình bày này thực chất có khác với quan điểm của Marx cho là dịch vụ phi sản xuất không phải là chi phí sản xuất mà là thặng dư. Quan điểm này bắt nguồn từ Adam Smith, cha đẻ của lý thuyết kinh tế tư bản và được tiếp tục chấp nhận bởi các nhà kinh tế được gọi chung là trường phái kinh tế cổ điển, trong đó có Marx. Quan điểm này đã bị bác bỏ từ lâu. Cho nên khi trình bày lý thuyết thặng dư của Marx tôi đã trình bày theo quan điểm mới, tức là mọi chi phí cho dịch vụ đều là chi phí sản xuất. Điều này không ảnh hưởng gì đến lý thuyết thặng dư.
[8] GDP hay tổng sản phẩm quốc nội bao gồm giá trị mới tạo ra trong nền kinh tế. Như vậy, theo nguyên tắc GDP không bao gồm khấu hao tài sản cố định dùng trong sản xuất. Thế nhưng, Tài khoản quốc gia lại cộng thêm khấu hao để tính GDP vì việc tính khấu hao theo đúng lý thuyết kinh tế rất khó khăn, đòi hỏi việc tính lại toàn bộ giá trị tài sản cố định theo giá thị trường. Việc tính lại này là điều mà hầu hết các nước, kể cả các nước phát triển cũng không thể tính ngay được mà phải đợi ít nhất một năm sau, khi đã thu thập đầy đủ thống kê.
[9] Marx phân tích một nền kinh tế thị trường, do đó lương bổng tất yếu phản ánh giá trị của lao động và năng suất lao động. Để tìm đến giá trị thặng dư, Marx đưa mọi lao động về lao động trung bình, và do đó lao động có giá trị cao, có năng suất cao có thể đưa về bội số của lao động trung bình.
[10] Trên thế giới hiện nay, tuyệt đại đa số người sở hữu tư bản không bỏ tiền tự xây dựng và quản lý doanh nghiệp của mình. Hầu hết họ chỉ là những người sở hữu cổ phần một cách thụ động.
[11] Đây là điểm ông Việt Phương đưa ra để làm sáng tỏ thêm phân tích về thặng dư của Marx trong một lần trao đổi riêng với tác giả.
[12] C. Mác và Ph. Ăng-Ghen, Tuyên Ngôn của Đảng Cộng sản, các đoạn trong ngoặc kép là trích theo bản dịch của Việt Nam, có trên Internet, http: //www.vcp.org.vn. Có ý kiến cho rằng Marx xuất bản Tuyên Ngôn năm 1848, do đó có thể thay đổi quan điểm sau cuộc nội chiến Pháp với công xã Paris năm 1871 và sau khi viết tập I bộ Tư Bản (xuất bản năm 1867). Điều này có thể xảy ra vì với lần tái bản năm 1888, Engels có viết trong lời tựa là mặc dù có những chỗ cần viết lại như đoạn phê phán văn chương theo hướng xã hội chủ nghĩa cũng như nhận định về sự liên hệ giữa những người cộng sản và các đảng phái đối lập khác nhưng vẫn quyết định giữ nguyên vì tính chất lịch sử của văn kiện. Tuy vậy ý kiến này không có cơ sở vì trong Phê phán Cương Lĩnh Gotha (1875) viết trước khi qua đời, Marx cho rằng một nhà nước của giai cấp vô sản phải là “kết hợp chuyên chính vô sản và tổ chức chính trị như công xã Paris.” (Bản dịch trên địa chỉ Internet ở trên.) Tư tưởng cơ bản về vai trò của chuyên chính vô sản trong nhà nước của giai cấp vô sản như vậy không có gì thay đổi, có chăng là sau này Engels nói đến tính tự nguyện của tiểu nông trong việc gia nhập hợp tác xã.
[13] Ở đây, thuế thu nhập không được kể tới vì nó chỉ nhằm phân phối lại lợi tức và không ảnh hưởng đến giá trị sản xuất, giá trị tăng thêm hay giá trị thặng dư.
[14] Dĩ nhiên thực tế này không nhất thiết đưa đến kết luận nếu cứ xoá bỏ tư hữu tất dẫn đến sự độc đoán về quyền lực.
[15] Tức là lãi cần phải có để người có tiền để dành sẵn sàng cho người khác mượn. Hay nói khác đi, nó là phần thưởng cho người có tiến hoãn chi tiêu ngay, tức là giá của tiền vốn.
[16] Gerard Debreu, Theory and Value: An Axiomatic Analysis of Economic Equilibrium, New Haven: Yale University Press, 1959; K. Arrow and G. Debreu, “Existence of an Equilibrium for a Competitive Economy,” Econometrica, 22, 1954; K. Arrow and L Hurwicz, “On the stability of the Competitive Equilibrium, I,” Econometrica, 26, 1958 và K.. Arrow, H.D. Block and L. Hurwicz , “On the stability of the Competitive Equilibrium, II,” Econometrica , 27, 1959.
[17] E.S. Phelps, Golden Rules of Economic Growth, New York: Norton, 1966 hay E.S. Phelps, “Accumulation and the Golden Rule,” American Economic Review, Vol. 51, 1961.
[18] Lãi suất (interest rate) = sản lượng biên của tích sản cố định (marginal product of capital). Lãi theo nguyên tắc được áp dụng cho cả vốn bỏ ra hoặc vốn cho vay.

6 Trackbacks to “Vấn đề bóc lột lao động nhìn từ lý thuyết thặng dư của Marx và kinh tế hiện đại -phần III-”

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: