Vấn đề bóc lột lao động nhìn từ lý thuyết thặng dư của Marx và kinh tế hiện đại -Phần I-

bởi tuonglaivietnam

Tác giả: Vũ Quang Việt[1]

Lý thuyết giá trị thặng dư đã được Marx sử dụng để phân tích kinh tế tư bản chủ nghĩa trong thời kỳ chủ nghĩa tư bản hoạt động với rất ít các định chế ràng buộc, kiểm soát và can thiệp của nhà nước.[2] Cuộc đại khủng hoảng kinh tế năm 1929-30, kéo dài đến thế chiến lần thứ hai đã khiến các nhà kinh tế đặt lại vai trò của nhà nước đối với chế độ tư bản này. Có thể nói Keynes là nhà kinh tế đi đầu trong việc nhấn mạnh đến vai trò can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế. Kinh tế tư bản phục hồi và từ đó dù vẫn tiếp tục trải qua nhiều khủng hoảng nhưng cũng chứng tỏ sức sống mãnh liệt của nó trong việc phát huy tiềm năng con người về khoa học kỹ thuật và đưa tiềm năng này vào phát triển kinh tế. Trong khi các nước tư bản tìm mọi cách cải cách thì xuất hiện một mô hình kinh tế mới của các nước xã hội chủ nghĩa, đứng đầu là Liên Xô, lấy hoạch định kinh tế làm cơ sở trong đó nhà nước đóng vai trò chủ chốt về mọi mặt của cuộc sống, nhưng về mặt kinh tế thì nắm toàn bộ giá trị thặng dư, tập trung vào tích lũy để phát triển là điểm mấu chốt. Mô hình mới này vận động tổng hợp được sức mạnh của khoa học kỹ thuật và tiềm năng thiên nhiên sẵn có cũng như sự hy sinh của con người đã tạo được đột biến trong phát triển cho Liên Xô, nhưng rồi do năng suất thấp kém, tiềm năng con người bị đè bẹp trong hệ thống nhà nước hoạch định ngày càng quan liêu hoá, thiếu dân chủ, với vài người nghĩ cho nhiều người, nền kinh tế Liên Xô đã đi đến chỗ phá sản. Các nước khác do sống nhờ vào sức mạnh kinh tế của Liên Xô cũng có số phận tương tự. Thực tế này cho thấy để giải quyết vấn đề người bóc lột người trong một chế độ kinh tế tư bản, mà lý thuyết thặng dư nói tới, kinh tế hoạch định kiểu cũ không phải là giải pháp. Mục đích xoá bỏ người bóc lột người vẫn sẽ tiếp tục là mục tiêu của những người cấp tiến trong đó có những người theo chủ nghĩa Marx, nhưng kinh nghiệm thực tế vừa qua đòi hỏi việc nhìn nhận lại lý thuyết thặng dư và từ đó đúc kết nhằm đưa đến một cái nhìn mới về một xã hội không còn bóc lột lao động hay ít nhất là về một xã hội mà  tình trạng bóc lột được giảm thiểu tới mức tối đa. Bài viết này là nhằm mục đích đó.

Lý thuyết thặng dư của Marx
Marx giải thích thặng dư giá trị như sau: “Hình thức đúng đắn của quá trình này do đó là M-C-M’, M’ = M+M=tổng số tiền ban đầu cộng thêm phần tăng thêm. Phần tăng thêm này, phần vượt giá trị ban đầu này tôi gọi là giá trị thặng dư.”[3]  Thặng dư như vậy là quá trình chuyển lượng tiền ban đầu (M) qua sản xuất hàng hoá (C) để đem về được lượng tiền M’ lớn hơn.
Thặng dư giá trị bao gồm cả lãi và lợi nhuận như Marx viết: “Nhà tư bản tạo ra thặng dư giá trị – nghĩa là rút tỉa lao-động-không-trả-công thẳng từ người lao động và gắn nó vào hàng hoá – thật ra nhà tư bản là người nắm lấy ban đầu[4], nhưng không phải là người sở hữu cuối cùng thặng dư giá trị này. Anh ta phải chia cho các tay tư bản khác, như chủ đất, v.v. Thặng dư giá trị do đó bị phân thành nhiều phần, rơi vãi cho nhiều thành phần dưới nhiều dạng như lợi nhuận, lãi, lợi nhuận của nhà buôn, tiền thuê, v.v.”[5]
Ý niệm giá trị thặng dư của Marx có thể trình bày theo thống kê kinh tế hiện đại trong bảng 1.

Giá trị thặng dư theo quan điểm của Marx[6] như đã trình bày ở trên là giá trị hàng hoá trên thị trường sau khi trừ đi chi phí sản xuất (tức là chi phí hàng hoá và dịch vụ dùng trong sản xuất),[7] chi phí trả cho lao động, thuế sản xuất và khấu hao tài sản cố định dùng cho sản xuất. Giá trị thặng dư gồm hai phần:
•    Phần trả lãi cho vốn mà doanh nghiệp vay ngân hàng. Phần trả cho tiền thuê đất, sử dụng bầu trời, biển, tài sản trong lòng đất hoặc nói rộng ra là các tài sản không do con người làm ra (tức là không do lao động tạo ra). Hai phần này Marx đều coi như là trả lãi. Điều này cũng phù hợp với lý thuyết kinh tế của thống kê Tài Khoản Quốc Gia của Liên Hợp Quốc[8].
•    Phần còn lại là lợi nhuận cho chủ xí nghiệp hay là các cổ phần viên.
Marx không phân biệt lãi và lợi nhuận vì đều coi chúng là thuộc giá trị thặng dư. Toàn bộ giá trị thặng dư theo Marx là do sức lao động của con người tạo ra vì bản thân của tiền nếu không qua quá trình sản xuất hàng hoá sẽ không thể tạo ra lượng tiền nhiều hơn. Giá trị thặng dư này, trong xã hội tư bản, thuộc về tư bản (người bỏ vốn và người tư hữu các tài sản không do con người tao ra, tức là những người tư hữu tư liệu sản xuất).

Nhìn nhận lại lý thuyết thặng dư
Marx cho rằng lý luận của ông không có tính chất phê phán đạo đức mà chỉ có tính phân tích nhằm tìm nguồn gốc của thặng dư. Theo cách nhìn của Marx:
•    Tài sản cố định là lao động chết tức là từ thặng dư lao động của quá khứ, giá trị của nó đã được phản ánh qua chi phí khấu hao.
•    Tài sản tài chính dùng để tổ chức sản xuất (cần có vốn trả lương cho lao động trước khi có thể thu hồi lại vốn sau khi bán hàng) cũng như dùng để mua hoặc chế tạo tài sản cố định dùng trong sản xuất là do bóc lột lao động mà ra.
•    Tài sản không do con người sản xuất ra như đất đai và của cải thiên nhiên mà một người nào đó nắm được là do sử dụng bạo lực, hoặc do thừa kế từ cha ông sử dụng bạo lực, hoặc do thu mua cũng từ vốn thặng dư sinh ra từ bóc lột lao động.
•    Lương lao động theo quan điểm của Marx bao gồm cả phần trả lương cao cho lao động quản lý và lao động có kỹ thuật cao, tức là lao động quản lý và kỹ thuật của bản thân của người sở hữu tư bản, nếu như họ cũng làm việc.[9] Như vậy giá trị thặng dư chỉ có thể hiểu là phần chiếm hữu của người sở hữu tư bản không hoạt động, hoặc phần chiếm hữu vượt quá mức giá trị lao động họ bỏ ra.[10]
Lãi và lợi nhuận do việc sở hữu các tài sản mang lại là từ thặng dư lao động.  Bảng 1 ở  trên cũng cho thấy là lý thuyết kinh tế tư bản hiện đại cũng coi lãi và lợi nhuận là thặng dư (operating surplus). Nói tóm lại, bóc lột xuất hiện dưới hình thức giá trị thặng dư chỉ xảy ra trong một xã hội có tư hữu tư liệu sản xuất. Marx dĩ nhiên không quên các loại vắt sức lao động người khác bằng bạo lực để chiếm đoạt mà ta thường gọi là áp bức đã từng xảy ra trong suốt lịch sử loài người của chủ nghĩa nô lệ, đế quốc, thực dân, cũng như qua các hành động hoặc áp đặt hoặc duy trì tình trạng bất bình đẳng trong quan hệ trao đổi của quá trình toàn cầu hoá hiện nay.[11]
Từ nhận định vừa có tính chất thực tế về xã hội tư bản chủ nghĩa vừa dựa trên phương pháp trừu tượng hoá, xoá bỏ những phức tạp có tính đặc thù, để làm phân tích khoa học, Marx đã đưa đến một cái nhìn tương lai về một xã hội không có bóc lột trong Tuyên ngôn Cộng Sản.
Trong Tuyên ngôn này Marx chủ trương: “xoá bỏ chế độ tư hữu”, cụ thể hơn là cổ vũ cho “giai cấp vô sản biến thành giai cấp thống trị” và “dùng sự thống trị của mình để từng bước đoạt lấy toàn bộ tư bản trong tay giai cấp tư sản, để tập trung tất cả những công cụ sản xuất vào trong tay nhà nước, tức là trong tay giai cấp vô sản đã được tổ chức thành giai cấp thống trị” kể cả “tước đoạt sở hữu ruộng đất”, “xoá bỏ quyền thừa kế”. Và nắm quyền bằng bạo lực. “Những người cộng sản coi là điều đáng khinh bỉ nếu giấu diếm những quan điểm và ý định của mình. Họ công khai tuyên bố rằng mục đích của họ chỉ có thể đạt được bằng cách dùng bạo lực lật đổ toàn bộ trật tự xã hội hiện hành.”[12]
Như vậy mặc dù không để thì giờ suy nghĩ và viết nhiều về xã hội tương lai, tức là xã hội xã hội chủ nghĩa có tính chuyển tiếp, rõ ràng theo Marx xã hội này phải dựa trên một nhà nước của giai cấp vô sản, trong đó toàn bộ tư liệu sản xuất và tất nhiên là vốn tài chính nằm trong tay nhà nước. Và nhà nước này cũng chỉ là một hình thức quá độ đến xã hội cộng sản. Marx tin tưởng rằng xã hội cộng sản sẽ là một xã hội mà ở đó nhà nước sẽ không còn tồn tại, con người hoàn toàn tự ý thức làm việc vì mọi người. Tổ chức xã hội cộng sản sẽ là phải là thể chế mà ở đó con người không còn giai cấp, hoàn toàn bình đẳng, tự do, có trách nhiệm và làm việc hết khả năng, không tư lợi.
Trong nền kinh tế không có tư hữu và con người không toàn hảo, tức là ở thời kỳ quá độ, người chăm chỉ, năng suất cao, tri thức cao tất nhiên cũng được trả lương cao hơn người lười biếng, tri thức thấp, năng suất thấp. Nhà nước sẽ tính toán đầy đủ để mọi người sử dụng hết lương được trả, số tiền dành dụm và tâm lý dành dụm coi như không đáng kể và chẳng cần khuyến khích. Toàn bộ phần còn lại là thặng dư giá trị lao động mà nhà nước chiếm dụng với mục đích tích lũy nhằm đẩy mạnh sự phát triển kinh tế và mang lại lợi ích cao hơn cho mọi người lao động.
Thặng dư lao động mà nhà nước chiếm đoạt ở các nước xã hội chủ nghĩa trước kia có thể nói là rất cao, phản ánh qua tỷ lệ tích lũy/GDP lên đến 30-35%. Nếu nhìn vào thặng dư lao động mà nhà nước chiếm dụng thì tỷ lệ này nói chung cao hơn chế độ tư bản Mỹ. Vào năm 1996, ở Việt Nam tỷ lệ thặng dư là 19,0% trong khu vực công nghiệp nhà nước so với ở Mỹ là 22,6%. Nếu kể cả thuế sản xuất vào thặng dư (như theo quan điểm của Marx) thì tỷ lệ thặng dư ở Việt Nam là 35%, cao hơn tỷ lệ thặng dư ở Mỹ là 30.0%[13].

9 Trackbacks to “Vấn đề bóc lột lao động nhìn từ lý thuyết thặng dư của Marx và kinh tế hiện đại -Phần I-”

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

%d người thích bài này: