Bình Trị Thiên: môi trường tự nhiên và hướng phát triển

bởi tuonglaivietnam

Tác giả: THÁI CÔNG TỤNG

Người du khách sau khi rời huyện Kỳ Anh thuộc tỉnh Hà Tình, sẽ vượt qua Đèo Ngang được bất hủ hoá qua bài thơ của Bà Huyện Thanh Quan để  vào địa phận tỉnh Quảng Bình. Từ Đèo Ngang trở vào mãi cho đến Chân đèo Hải Vân,  đó là vùng thiên nhiên Bình Trị Thiên, một sinh hệ tự nhiên có 5 điểm đặc thù sau đây khiến đồng bằng này khác hẳn các đồng bằng khác của miền duyên hải Trung Việt

 

* * *

                                                          Summary

Binh Tri Thien (BTT),  with an area of 17 581 km2 and about 2.5  millions in population, is a relatively homogeneous ecosystem in terms of climate. It covers 3 administrative provinces, namely Quang Binh, Quang Tri and Thua Thien and extends from Ngang pass in Quang Binh to Hai Van pass south of Hue . Two third of BTT’s landscape is dominated by Truong Son and its neighboring sand dunes leaving only narrow areas between them for farming. The Truong son mountains separate the ecosystem from Laos and have different rock formations: limestone hills with karst geomorphology in Quang Binh, igneous rocks in Quang Tri and Thua Thien. Near the sea, there are lagoons and sand dunes. The coastal plains with fertile alluvial soils are thus small in acreage.

The climate of BTT is characterized by late but heavy rain which peaks in Fall giving BTT a precipitation level of 2000 mm; every year, during the dry season in this area,  wind charged with moisture  blows from western Laos, crosses the mountain range and once descending into the plains, it induces a foehn phenomen, and brings very hot wind, damaging crops…Since watershed of the rivers are small, rivers are subject to big and sudden floods during the typhoons .

 This article provides important geographical characteristics and valuable biodiversity of BTT and outlines major factors that cause environmental impacts to the ecosystem

The author further outlines the impacts of overpopulation, overcutting, overgrazing/overstocking, overfishing, overhunting and  overpumping of ground water as main causes of environmental degradation. The author promotes birth control, tree cutting control, grazing control, fishing control, hunting control, and pumping control as programs that can be implemented to protect the sustainability of the ecosystem. Last but not least, the author emphasizes the need to preserve the region’s biodiversity as well as promoting off-the land activities to relieve pressure on agricultural lands.

Người du khách sau khi rời huyện Kỳ Anh thuộc tỉnh Hà Tình, sẽ vượt qua Đèo Ngang được bất hủ hoá qua bài thơ của Bà Huyện Thanh Quan để  vào địa phận tỉnh Quảng Bình. Từ Đèo Ngang trở vào mãi cho đến Chân đèo Hải Vân,  đó là vùng thiên nhiên Bình Trị Thiên, một sinh hệ tự nhiên có 5 điểm đặc thù sau đây khiến đồng bằng này khác hẳn các đồng bằng khác của miền duyên hải Trung Việt:

.mưa nhiều và trễ

.có gió Lào rất nóng  từ  tháng 3 đến tháng 6 mỗi năm, nên gây ra bốc hơi, thoát hơi nhiều trên thực vật.

.nhỏ hẹp.

.dễ lụt.

.nhiều động cát di động

Thực vậy, phiá bắc đèo Ngang, các đồng bằng tương đối rộng với các dòng sông lớn như sông Mã, Sông Chu ở Thanh Hoá, sông Cả ở Nghệ An .Phía Bắc đèo Ngang, ít có cồn cát hơn và vũ lượng cũng thấp hơn.

Diện tích toàn vùng Bình Trị Thiên là 17581 km2[1] (Quảng Bình: 7.984km2, Quảng Trị: 4.588km2,Thừa Thiên: 5.009km2) với một dân số (1997) 2.446.000 triệu người .Mật độ dân số là 139 người /km2, nhưng vì đồi cát, núi non chiếm đến 2/3 nên mật độ  trên diện tích canh tác cao hơn nhiều

Địa hình của vùng thiên nhiên Bình Thị Thiên này lại có thể chia ra thành 2 phần chính:

a/ giãy núi Trường Sơn phiá Tây giáp với Ai Lao.

Quá khỏi đèo Mụ Gia (418 m) của tỉnh Quảng Bình là khởi đầu một giãy núi đá vôi hiểm trở (Ke Bang-Khe Ngang) liên tục với cao nguyên đá vôi vùng Se Bang Phai bên Lào .Vì là núi đá vôi nên phong cảnh vùng Ke Bang rất khô khan và hiểm hóc; không có suối nước vì đá vôi rất dễ thấm nước. Trong giãy núi đá vôi Ke Bang này có động Phong Nha dài 2000 m, rộng từ 8 đến 35 m và nhiều chỗ cao đến 40 m. Địa hình đá vôi là một loại địa hình đặc biệt có những dòng suối ngầm dưới lòng đất cùng những thạch nhũ ngổn ngang (relief karstique).

Từ phía Nam của rặng núi đá vôi Khe Ngang đến đèo Lao Bảo là một vùng đồi núi sa thạch hoặc đá granít có thể gặp ở 2 mức, một cao độ 1000 m (như núi Ba rền 1173 m), còn mực kia ở 300-400 m (như cao nguyên Khe Sanh và Lao Bảo 350 m) . Khu vực Khe Sanh Lao Bảo gồm một số gò đồi từ cây số 56 đến cây số 73, trên con đường số 9 nối liền Đông Hà và Savannakhet. Nhiều đồi đất đỏ do sự phong hoá của đá bazan tạo nên là nơi có nhiều đồn điền caphê . Một trong những đồn điền caphê nổi tiếng ở Khe Sanh thời trước 1975 là của ông Poilane, một nhà thực vật học cùng trào với các nhà thực vật học Pháp đầu tiên ở Đông Dương như Leconte ..Các đồi đất đỏ cũng có thể gặp ở một cao độ thấp hơn 100 m như Cam Lộ (Cùa), Gio Linh và Vĩnh Linh,với diện tích quãng 20.000 ha .

Phiá Nam đèo Lao Bảo, địa hình lên cao trở lại đến mức 1000 m.Những dãy núi đá granit cứng có cao độ từ 1300 đến 1800 m  và đâm luôn ra biển ở đèo Hải Vân, ngăn cách 2 đồng bằng Thừa Thiên và Quảng Nam. Các nếp nhăn của núi theo chiều Tây Bắc-Đông Nam như Động Sa Mùi (1613m), Động Ngãi (1774m), Bạch Mã (1440m) .

b/đồng bằng duyên hải .

Lịch sử hình thành đồng bằng Bình Trị Thiên cũng tương tự như các đồng bằng duyên hải khác. Tất cả đều do quá trình biển tiến vào mài mòn đường bờ biển xưa củ nằm sát tận chân núi, ngày nay còn có nhiều thềm biển nằm ở các cao độ khác nhau 40m, 25m, 20m, 5-2m. Các thềm biển đánh dấu sự tác động của các thời kỳ băng hà (période glaciaire) và tan băng (période interglaciaire) của thời kỳ địa chất đệ tứ kỷ. Càng ra gần biển, các thềm biển cứ thấp dần và tuổi cũng trẻ dần, chứng tỏ đất được nâng cao dần và bờ biển cứ lùi ra xa .Các đầm phá được lấp dần cũng như các đảo cũng được nối dần vào bờ tạo thành các đồi núi giữa đồng bằng. Gió thổi các trầm tích cát ven biển để dần dà  tạo thành cồn cát, nơi nào gió mạnh thì gió vun thành các động cát.

Vì vậy, đồng bằng này  có thể phân chia ra theo một phẫu diện từ Tây sang Đông:

b.1.phù sa cổ sinh,

b.2. phù sa cận đại có nhiều cảnh quan khác nhau như ven bãi sông suối (các cồn, giãi đãt ven sông), chân ruộng cao, thấp, trũng,)

b.3. đồng bằng bị ảnh hưởng của nước mặn và cuối cùng là

b.4 .các giải đồi cát duyên hải .

Thế nào là 6 chữ O trong vấn đề môi sinh?

1 .Overpopulation.(quá đông dân)

Hệ sinh thái Bình Trị Thiên đãt hẹp, người đông. Mật độ  trên đãt trồng trọt được rất lớn .Người dân xứ này phải di dân vào Saigon, Dalat, Nha Trang, Bình Tuy, Phước Long. Nhưng đến một lúc, không thể di dân nữa vì tài nguyên đất là một hằng số (có hạn).

Dân số càng ngày càng đông thì nẩy sinh ra một số nhu cầu căn bản : nhu cầu về chất đốt , về gổ xây cất, rồi đến các vấn đề môi sinh ở các đô thị như tiếng động,  bụi bặm,  chất thải, ô nhiễm nguồn nước uống..

‘Phố phường chật hẹp người đông đúc,

    Bồng bế nhau lên nó ở non’

Vì  quỹ đất canh tác có tính cách cố định, nên diện tích đãt dành cho người nông dân càng ngày càng nhỏ .

2.Overcutting.(phá rừng)

Các rừng miền núi bị đốn cây toàn bộ, cả cây lớn lẫn cây con nên rừng bị hủy diệt không còn có cây mẹ để tái sinh được. Vùng Cùa ở Cam Lộ là nơi vua Hàm Nghi ra đó trú ẩn, tục gọi là Tân Sở, trước kia là rừng.  Rừng có nhiều loài chim thú hoang như công, trĩ, vạc, vượn, hươu sao, hươu xạ, cọp, beo, bò tót, bò rừng, voi, tê giác nay không còn nữa. Trong sách Le dragon d’ Annam, Cựu Hoàng Bảo Đại có đề cập đến vùng chứa nhiều muông thú này.  Phá rừng như vậy thì dẫn đến xói mòn, dẫn đến sự giảm bớt đa dạng sinh vật. Rừng đầu nguồn bị phá thì gây nên nhiều hậu quả miền hạ lưu : nào là đập nước bị vơi nước dần, nào là kinh mương bị sét, bùn lắng đọng nên vận tốc dòng chảy bị chậm lại, nào là nước mặn xâm nhập vào nội địa sâu hơn và sớm hơn: sâu hơn vì  sông ngòi không đủ nước để đẩy nước mặn  đi xa hơn và sớm hơn vì nước mặn tràn vào ngay từ bắt đầu muà nắng, khi mùa mưa mới chấm dứt . Vì áp lực dân số nên nhiều rừng bị tàn phá, nhiều loài thực vật bị mất hẳn. Khi một loài bị mất như vậy thì kho gen chưá các mã số di truyền khác nhau cũng bị mất luôn; các nhà bác học muốn lai giống mới, tạo giống cao năng xuất hơn cũng không tìm lại được giống củ để cải thiện. Công tác cải thiện giống cây trồng đòi hỏi một nguồn vật liệu di truyền phong phú, đa dạng  và được bảo quản an toàn khỏi sâu, bệnh và các nguy cơ gây thoái hoá khác.

Các nhà di truyền học phải luôn luôn tạo ra những giống mới cho năng xuất cao hơn, kháng sâu hơn, kháng bệnh hơn, có chu kỳ sinh trưởng ngắn hơn (le plus, le mieux, le plus vite) để phục vụ về mặt lương thực, một mặt khác thì vốn di truyền hay vốn gen càng ngày càng bị thu hẹp dần. Đó là lý do tại sao phải có sự đa dạng sinh học.

Rừng Việt Nam xưa kia  rất sầm uất và chiếm nhiều diện tỉch. Ngày nay, trên diện tích 33 triệu hecta, thì có đến trên 10 triệu là đồi trọc không cây cối .Rừng nhiệt đới chứa nhiều sinh vật, từ tầng trên đến tầng dưới lẫn thảm thực vật. Danh mục dược thảo đã biết lên đến 1300 loài .Có loài chứa nhiều alcalôít khác nhau .Các loài nấm ở thảm thực vật cũng có thể chứa nhiều nấm kháng sinh.(xem sơ đồ về ảnh hưởng của rừng trên môi sinh)

 3.Overgrazing/ Overstocking.(đồng cỏ quá sức tải)

Bò và dê lang thang từ vùng này sang vùng khác kiếm cỏ nhưng khi quá tải sức chứa của hệ sinh thái thì làm đất chai cứng lại, rồi cỏ cũng không mọc lên được, xoi mòn lại thêm một phen tàn phá .Đó là chưa kể thả dê vì loài dê gậm cả đọt non của thực vật khiến thực vật không có cơ mọc và phát triển được.

4.Overfishing.(đánh cá quá mức)

Nhiều vùng , ngư dân dùng cả cốt mìn để giết cá chết hàng loạt.  do đó cá con chưa kịp sinh sản đã bị diệt, gây nên cạn kiệt nguồn lương thực cho các thế hệ sau này . Câu tục ngữ ngàn đời của tổ tiên ta: ‘Nhất phá sơn lâm, nhì đâm Hà Bá ‘ nói lên sự quan trọng của môi sinh..

5.Overhunting.(săn bắn quá mức)

Săn lậu để kiếm thịt rừng , bẫy thú lấy sản phẩm xuất cảng sang Trung Hoa qua các cửa khẩu miền Bắc   làm thú hoang càng ngày càng có nguy cơ bị diệt vong, thay vì săn bắn thú rừng đúng mức và đúng muà.

6. Overpumping (bơm nước quá mức)

Nếu ta bơm nước ngầm quá sức luân lưu của dòng chảy, quá khả năng tiếp tế của nước mưa thì nước mặn sẽ tràn sâu hơn vào nội địa: ngày nay, rất nhiều dòng sông miền này bị nước mặn lên sâu hơn, khiến nhiều diện tích lúa bị nhiễm mặn thất thu; tóm lại cái gì quá tải với thiên nhiên thì thiên nhiên sẽ phản ứng lại . Vạn vật nhất thể là vậy!

Thế nào là 6 chữ C trong vấn đề quản lý môi sinh ?

1. Population control (Birth Control) tức kiểm soát sinh đẻ .

Sự kiểm soát sinh đẻ giúp điều hoà dân số đến một mức kiểm soát được; ở thôn quê Việt Nam ngày nay, dân chúng vẫn không ý thức hoặc không có phương tiện để điều hoà sinh sản; dân số càng tăng thì áp lực trên môi sinh càng nặng

2. Cutting control.tức tránh nạn phá rừng

Phải kiểm soát nạn phá rừng bừa bãi .Chỉ có thể đốn các cây già và  đã đạt tới một kích thước thương mãi . Phải kiểm soát nạn lửa rừng

3.Grazing control

Thay vì trâu, bò, dê cứ thả lang thang dẫm chân quá tải (overstocking) lên đồng cỏ, cần phải có kế hoạch di chuyển theo một chu kỳ nhất định để các đồng cỏ có thể tái tạo  trước khi để súc vật trở lại .Không thể để súc vật vào các khu mới trồng lại rừng,vì trâu bò sẽ ăn luôn cây con mới trồng..

4. Fishing control.(kiểm soát nạn tiêu diệt hải sản)

Không được dùng lưu đạn, mìn cho nổ chết cả cá mẹ lẫn cá con .Mắt lưới cũng không được nhỏ quá vì như vậy, cá con cũng bị bắt

5. Hunting control. (kiểm soát săn bắn)

Phải có giấy phép săn bắn và giới hạn khu vực săn bắn cũng như không được săn bắn các loài thú hiếm và tránh săn bắn vào các mùa chúng sinh đẻ

6. Pumping control. (kiểm soát bơm nước quá tải)

Không bơm nước nhiều khiến làm sụt mặt nước ngầm quá mức để nước mặn vào nội địa sâu hơn hoặc là tạo dựng thêm nhiều hồ nhân tạo trên đồi núi Trường Sơn để trữ nước ngọt vào mùa mưa và xả nước đó dần dần vào mùa nắng để tưới những loại hoa màu không cần nhiều nước như đậu phụng, đậu nành để tiết kiệm nước, hầu tránh các ảnh hưởng tiêu cực của sự lạm thác nước ngầm..

Qũy gen và đa dạng sinh học

Nhiều giống cây, nhiều giống hoa màu,  nhưng lại chứa đựng một quỹ gen rất phong phú . Nhờ quỹ gen đó mà có thể thay đổi hay cải thiện các giống hiện có để thích nghi với môi trường mới, kháng sâu hơn, giúp cải thiện môi trường. Sự đa dạng sinh học là điều kiện cần thiết để có một quỹ gen phong phú . Nhiều giống luá kháng lạnh, kháng hạn, kháng mặn có rải rác ở mọi nơi . Tại vài nơi còn có các giống luá đặc sản như ở Thừa Thiên có gạo Gie An Cựu, vừa dẽo, vừa thơm như câu ca dao:

Tôm rằn  lột vỏ bỏ đuôi,

      Gạo Gie An Cựu mà nuôi mẹ già .

Tại các chân ruộng úng nước, môi trường thiếu lân , thừa sắt, độc nhôm (aluminium toxicity), có nhiều giống cổ truyền chịu đựng được các yếu tố trên. Nhiều giống luá cổ truyền  có nhiều nguồn gen phong phú kháng bệnh đạo ôn (Pyricularia Oryzae),bệnh bạc lá (Xanthomonas oryzae), bệnh khô vằn (Rhizoctonia solani), rầy nâu (Nilaparvata lugens).

Tại vùng Bình Trị Thiên, những loài cây có củ cũng rất đa dạng; sau đây là một số cây quan trọng:

Tên Việt             Tên khoa học                                    Tên Anh ngữ

Khoai nước     Colocasia antiquarum             Aroid

Khoai sọ         Colocasia esculenta                  Taro

Khoai mùng    Xanthosoma sagittipolium    Tannia

Khoai riềng (củ dong) Maranta edulis            Canna

Khoai lang      Ipomea batatas                          Sweet potato

Dong trắng    Maranta arundinacea               Arrowroot

Sắn dây           Pueraria thomsoni

Khoai mở        Dioscorea alata                       Greater yam

Khoai từ         Dioscorea esculenta                 Potato yam

Củ đậu            Pachyrhizus erosus                  Bean root crop

Khoai mài       Dioscorea persimilis               Yam

Khoai nưa       Amorphophalus campanulatus   Elephant yam

Vì vùng này có nhiều loại củ như trên nên trong công tác cải thiện, chắc nguồn gen cũng khá phong phú .

Nhiều Trung Tâm Khảo Cứu trên thế giới đã phải sưu tập rất nhiều hạt giống cuả mọi giống lúa, mọi giống đậu, khoai tây, bắp…và tồn trữ trong các kho lạnh để cho khỏi mất tỷ lệ nẩy mầm trong hàng chục năm.Thực vậy, hiện nay trên thế giới có quãng trên 10 Trung Tâm quốc tế, rải rác trên toàn thế giới, chuyên có một bộ phận lo sưu tập và bảo tồn quỹ gen các loài .Nào là CIMMYT ở Mexico ,đặc trách lúa mì và bắp, y như tên gọi Centro Internacional Mejoramiento Maiz y Trigo, nào là CIAT ở Colombia  lo sưu tập các loại đậu, nào là ICRISAT( International Crop Research Institute for the Semi Arid Tropics) ở Ấn Độ sưu tập đậu phụng và đậu triều tức Cajanus indicus, nào là IRRI (International Rice Research Institute) ở Phi luật tân chuyên về lúa, từ lúa ruộng đến lúa rẩy, từ lúa tẻ đến lúa nếp, lúa nổi  đến lúa chịu phèn, kháng mặn ,nào là CIP ở Pérou lo về khoai tâỵ Từ 1968, Viện IRRI đã du nhập và tồn trữ trong kho lạnh gần 70.000 giống lúa (trong đó 63000 ở Á Châu). Muốn cho an toàn hơn, cứ mỗi giống lúa, họ gửi một nửa sang Mỹ, hiện tồn trữ trong kho lạnh ở Colorado ( U.S. National Seed Storage Laboratory ở Fort Collins). ở Rome, tổ chức FAO còn có một Uỷ Ban đặc trách về các nguồn gen di truyền này; đó là IBGR (International Board for Genetic Resources) .Nền tảng cuả cuộc cách mạng xanh hiện nay là nhờ vào quỹ gen trên. Các nhà bác học đã xử dụng quỹ gen để tạo giống mới kháng hạn hơn, cao năng hơn, kháng sâu bệnh hơn.. Căn bản di truyền trong sự cải thiện thực vật là nằm trong các gen mà một khi các gen bị mất đi (do phá rừng, do đô thị hoá) thì các nhà di truyền học không tìm đâu ra các gen để còn tiếp tục lai giống. Các rừng núi Bình Trị Thiên vì có nhiều đa dạng sinh học do sự giao tiếp của thực vật cả miền Bắc (khu vực thực vật Nam Hoa và Hi mã lạp sơn) lẫn miền Nam ( khu vực thực vật Nam Á và Miến Điện) nên chứa đựng một qũy gen rất phong phú và đa dạng .Vì tương lai của không biết bao nhiêu thế hệ sau lưng  nên ta không thể khai thác bừa bãi các nguồn tài nguyên hiện tại . Cuộc đời rất ngắn, so với sự miên viễn của nhân loại :

Vèo trông lá rụng ngoài sân,

     Công danh phù thế có ngần ấy thôi

thi sĩ Tản Đà đã ngậm ngùi như trên. Phát triển lâu bền  (sustainable development) chính là sự phát triển sao cho nhừng thế hệ mai sau cũng còn thừa hưởng được tài nguyên của tạo hoá .

Vài ví dụ cụ thể về sự cần thiết có sự đa dạng sinh học. Rượu nho từ cây nho Vitis vinifera .Ở Pháp, cây nho một thời tưởng đã bị tiêu diệt vì bệnh Phylloxera , nhưng nhờ tháp với các giống nho Mỹ (có nhiều loại Vitis như Vitis riparia mọc hoang dọc theo các dòng suối ở nam Texas,nam Carolina; có Vitis rupestris mọc ở vùng Louisiana; có Vitis labrusca ) hoặc lai giống với các giống nho này nên đã tạo ra những giống nho kháng bệnh hơn.

Có một số giống luá bị rầy nâu phá hại mà nhiều loại rầy nâu kháng lại được các thuốc sát trùng.Thế nhưng gần giãy núi Himalaya có những giống luá kháng rầy nâu tự nhiên nên có thể sử dụng các gen di truyền này để lai giống tạo nên các giống mới kháng sâu . Thực vậy, sự lai giống hoa màu là để tìm các dòng thuần túy có cùng những đặc tính giống nhau. Nhưng khi loại bỏ sự đa dạng trong mã số di truyền (code génétique)thì người ta cũng đồng thời tạo ra những cây ít chịu đựng các điều kiện khắt khe của môi trường. Giống cải thiện đòi hỏi phải chăm sóc nhiều hơn, phân bón nhiều hơn. Xịt thuốc sát trùng sẽ đưa đến những loại sâu kháng thuốc nhiều hơn, đòi hỏi các giống mới kháng sâu hơn; do đó phải tiếp tục cải thiện giống để đưa các gen tốt vào cây. Muốn đưa các gen tốt vào cây , các nhà di truyền học sử dụng nhiều phương pháp khác nhau như tháp cây, ngẫu biến, công nghệ sinh học( cấy mô)  .

Người ta thường đề cập đến vấn đề môi sinh. Tổ chức Green Peace là một ví dụ điển hình để gây chấn động nhân loại trong mọi chiều kích của môi sinh ngày nay, từ nhừng vụ nằm lì trên các bià rừng để chống sự đốn rừng bừa bãi đến các vụ chống săn cá voi, hải cẩu,hoặc chống các hãng dầu phá bỏ (thay vì tháo gở) các dàn khoan ở Bắc Hải gây ô nhiễm môi sinh cho loài người vì con người rốt cục nằm ở giai đoạn cuối cùng của giây chuyền thực phẩm .

Đạo lý môi sinh chính là tìm kiếm một sự phát triển hài hoà giữa Thiên, Địa, Nhân ở đãy con người phải tìm một sự quân bình sinh thái, khai thác đúng mức và dành phần vốn tài nguyên cho thế hệ mai sau, thay vì khai thác thâm vào vốn liếng tạo hoá như ở Việt Nam hiện nay . Phải chăng đó cũng là triết học Deep Ecology của nhà triết học người Na Uy Naes ?.
Vài đường hướng phát triển trong thời đại toàn cầu hoá
Trong thời đại toàn cầu hoá, các hoạt động phi nông nghiệp phải được chú trọng nhiều hơn .Đây là hướng đi trong tương lai, vì Trị Thiên có tiềm năng nông nghiệp quá hẹp . Theo đà đô thị hoá và tăng gia dân số, nhịp độ chuyển từ đất nông nghiệp sang đất xây dựng (đất nhà ở, đất trường học ..) ngày một nhanh do đó, tỷ lệ đất nông nghiệp cũng sẽ giảm nhanh, kéo theo sự sút giảm diện tích canh tác cho mỗi lao động nông nghiệp. Như vậy, các dịch vụ như tín dụng, ngân hàng, bảo hiểm, chuyên chở cũng như thương mãi giúp giảm áp lực dân số trên đất trồng trọt .Nông dân không đất nên giúp phương tiện , đào tạo ngành nghề để họ chuyển sang khu vực kinh tế ngoài nông nghiệp; riêng giáo dục đại học rất cần thiết để thực hiện các dịch vụ cao như:
-tài chính, ngân hàng, bảo hiểm . Với toàn cầu hoá, thương mại gia tăng, các quỹ đầu tư nước ngoài sẽ vào Việt Nam càng ngày càng nhiều, khiến nhu cầu chuyên viên tài chính, chứng khoán, mua bán bất động sản, ngân hàng, bảo hiểm sẽ gia tăng và giúp các sinh viên các ngành này có nhiều cơ hội tìm việc làm .
– công nghệ thông tin đòi hỏi các chuyên gia cần cù, tỉ mỉ mà người dân các tỉnh miền Trung có nhiều đức tính đó oho nên cần tận dụng khía cạnh nhân văn này .
– du lịch..Vùng duyên hải Trị Thiên có nhiều tiềm năng du lịch vì vừa có đồi cát, vừa có các phá (lagune) phía sau các đồi cát, một địa mạo tương tự như địa điểm du lịch Cancun nổi tiếng của Mexico .
Ngay từ thời Pháp thuộc, Quảng Trị đã nổi tiếng với bãi biển Cửa Tùng .Các học sinh Quảng Trị trong thời đệ nhị thế chiến đã có cơ hội đi nghỉ hè trên bãi bể này, cũng như các học sinh ở Lào, vốn là một nước không ăn thông ra biển nên được chính quyền cho đi nghỉ hè tại biển này luôn; ngày nay các hạ tằng cơ sở chắc đã hủy nát, chỉ cần trùng tu và phát triển thêm để hấp dẫn du khách . Từ Lăng Cô đến Cửa Thuận cũng có nhiều bãi biển có tiềm năng du lịch .
Trị Thiên gần Lào và gần miền Bắc Thái Lan và với cây cầu ở Mukdahan trên hành lang Đông-Tây tại Savannakhet nên có nhiều cơ hội cho các du lịch tập thể của các du khách Ai Lao và Thái Lan. Du khách miền Đông Bắc Thái, thay vì phải đi xuống miền Nam tận bờ biển Bangkok vốn đã quá sức tải nên có thể đi tắm biển gần hơn . Đó là một lợi thế so sánh, cạnh tranh được trong toàn cầu hoá .
Vùng Trị Thiên cũng có tiềm năng trong du lịch sinh thái ở những vùng rừng núi, qua suối, qua khe, nhìn thác nước, nhìn trăng lên ở miền núi .
-kỷ nghệ đóng đồ mộc vì Trị Thiên gần rừng (với điều kiện đừng phá rừng! )
– giao thông vận tải dọc hành lang Đông-Tây .Trị Thiên là cửa ngỏ đến các xứ thuộc ASEAN gần nhất xuyên qua đường số 9 vì xa lộ này sẽ xuyên qua Thái Lan đến hải cảng ở Miến Điện rất nhanh chóng, nối liền Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương.. Các kỷ nghệ vận tải này kéo theo một loạt các dịch vụ khác, tạo công ăn việc làm như trạm xăng, sửa xe hơi, tiệm buôn hàng hoá, tiệm duty-free ở cửa khẩu Lao Bảo, dành cho các du khách, trước khi vào Lào.
Nếu các hoạt động trên phối hợp nhịp nhàng, cọng thêm một kế hoạch ổn định dân số thì miền đất cày lên sỏi đá mới có thể vượt qua sự nghèo đói triền miên .

                                                                            Thái Công Tụng


[1] Sổ tay địa danh Việt Nam . Nhà xb Giáo Dục 1999

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

%d người thích bài này: